Phi công Mỹ ở Việt Nam ( kỳ 4 )

By

  TÙ BINH PHI CÔNG MỸ Ở HỎA LÒ...
NHỮNG
BÍ MẬT CẦN ĐƯỢC GIẢI Mà                  

   Trong kháng chiến chống Mỹ nhiều năm năm liên tục Nhà tù Hỏa Lò được coi là một trong những địa chỉ được bảo vệ nghiêm ngặt và bí mật nhất ở Hà Nội. Lý do thật đơn giản: Đó là nơi đã từng giam giữ hàng trăm Phi công Mỹ bị bắt trong chiến tranh Việt Nam.
Đến bây giờ thì điều bí mật trên không còn nữa. Nhưng không phải ai cũng hiểu được "sự thật đằng sau bức tường đá" một thời. Ví dụ: Cơ cấu tổ chức của trại Tù binh Phi công Mỹ Hòa Lò hối ấy như thế nào? Có phải tù binh Phi công Mỹ tại Hỏa Lò được ăn uống theo chế độ "đặc táo"? Họ được tạo điều kiện chơi thể thao thưởng thức văn nghệ tham qua danh lam thắng cảnh của Thủ đô ra sao? Những tù binh Mỹ nào đã được mời tham gia đóng phim cho Việt Nam? Và cả chuyện một nữ tù binh duy nhất với bức thư "xin nuôi mèo"?...Tất cả những câu trả lời cho những bí mật trên sẽ có trong bài viết dưới đây.

Đôi nét về "Khách sạn Hilton Hà Nội"
  
Nhà tù Hỏa Lò nằm ngay trung tâm Thành phố Hà Nội được xây dựng từ năm 1896. Người Pháp cho xây dựng nhà tù này nhằm giam giữ những người đấu tranh chống chế độ thực dân.
    Theo một tài liệu còn lưu trữ tại đây cho biết: Nhà tù Hỏa Lò vốn có tên là Đề lao Trung ương (Maison Centrale) nhưng do được xây trên đất của làng Phụ Khánh tổng Vĩnh Xương (cũ) một làng nghề chuyên sản xuất đồ gốm ngày đêm rực lửa lò nung vì thế làng còn có tên là Hỏa Lò và nhà tù ở đây cũng được gọi là nhà tù Hỏa Lò.
     Các nhà tù khác thường biệt lập với khu dân cư riêng Hỏa Lò nằm tại trung tâm Hà Nội thủ phủ của chính quyền thực dân khi đó. Bên cạnh nhà tù là tòa đại hình và sở mật thám tạo thành thế chân kiềng sẵn sàng đàn áp phong trào Cách mạng của nhân dân ta.
    Hỏa Lò là một trong những công trình kiên cố vào loại bậc nhất Đông Dương mà người Pháp đã xây dựng nên. Bao quanh nhà tù là bức tường bằng đá bê tông cốt thép cao 4 mét dày 0 5m được gia cố bởi hệ thống dây thép gai có dòng điện cao thế chạy qua bốn góc là những tháp canh có khả năng quan sát nhất cử nhất động toàn bộ trại giam. Riêng hệ thống cửa sắt và khóa phòng giam đã được mang từ Pháp sang.
     Nhiều thế hệ người Việt Nam đã bị giam cầm tại nhà tù Hỏa Lò trong đó có các nhà nho yêu nước như cụ Phan Bội Châu Lương Văn Can Dương Bá Trạc đến các đồng chí Nguyễn Văn Cừ Trường Chinh Lê Duẩn Nguyễn Văn Linh Đỗ Mười...
    Tổng diện tích của Hỏa Lò (cũ) rộng gần 13.000 mét vuông từ trên cao nhìn xuống khu đất này có hình thang với hai góc vuông (một cạnh của "hình thang" ấy là đường Thợ Nhuộm cạnh kia là đường Hai Bà Trưng; "đáy nhỏ" của "hình thang" ấy là đường Quán Sứ còn "đáy lớn" là phố Hỏa Lò). 
     Nếu đi ngoài các đường phố quan sát thì du khách chỉ thấy toàn bộ nhà tù Hỏa Lò được bao quanh bởi một bức tường đá bê tông cốt thép dày và cao. Ngày nay di tích nhà thù Hỏa Lò chỉ còn lại một góc nhỏ bằng 1/5 diện tích cũ nằm giáp với phố Hoả Lò phần lớn đã bị phá đi để nhường chỗ cho việc xây dựng một tòa tháp có tên tiếng Anh là Hanoi Towers.
      Cũng bởi sự kiên cố của nhà tù Hỏa Lò và vị trí của nó nằm ngay giữ lòng Thủ đô Hà Nội nên trong cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân của Mỹ ra miền Bắc Việt Nam Hỏa Lò được sử dụng để giam giữ hàng trăm tù binh Phi công Mỹ đã bị lực lượng phòng không ta bắn rơi và bắt sống. Thời đó các  Phi công Mỹ đã gọi Hỏa Lò bằng những cái tên hài hước là "Khách sạn Hilton Hà Nội" hoặc "Khách sạn Vỡ tim".
       Theo Đại tá Trần Trọng Duyệt (hiện trú tại Khu tập thể Đoàn 6 Hải quân Cầu Rào Hải Phòng) nguyên Trại trưởng cuối cùng của Trại tù binh Hỏa Lò - người được chứng kiến những ngày toàn bộ tù binh được ta trao trả cho phía Mỹ theo hiệp định Paris - nhớ lại thì trong thời gian chiến tranh tại Hà Nội tù binh Phi công Mỹ được giam giữ chủ yếu ở ba địa điểm chính: một là khu vực Fafim đường Nguyễn Trãi bây giờ (tiếng lóng của tù binh Phi công Mỹ gọi địa điểm này là "Sở Thú"); hai là số nhà 17 phố Lý Nam Đế (Phi công Mỹ gọi là "Đồn Điền"); và ba là Hỏa Lò (còn được tù binh Mỹ gọi hài hước là "Khách sạn Hilton" hay "Khách sạn Vỡ Tim") nơi thường xuyên có đông tù binh Phi công Mỹ "tá túc" nhất. Sau vụ đột kích bằng đường không của lực lượng đặc nhiệm Mỹ hòng giải cứu cho số tù binh bị giam giữ ở trại Sơn Tây bất thành các tù binh Mỹ đang giam giữ ở nhiều nơi đã được ta đưa cả về Hỏa Lò làm cho số lượng càng tăng lên khiến cho một số phòng giam gần như "quá tải".
    Về cơ cấu tổ chức của trại tù binh Hỏa Lò: Tổng cộng cán bộ chiến sĩ ta chỉ có khoảng 60 người. Trong đó có một Tổ Quản giáo kiêm Phiên dịch (từ 5 đến 7 cán bộ); một Tổ Bảo vệ chuyên làm nhiệm vụ dẫn giải tù binh đi làm việc và phục vụ sinh hoạt; hai Tiểu đội Hậu cần - Cấp dưỡng được chia làm 2 bộ phận: một bộ phận phục vụ cho ta còn bộ phận kia (có quản lý riêng) chuyên phục vụ tù binh Mỹ; một Trung đội Cảnh vệ gác vòng ngoài (khoảng 20 đến 25 người)...
      Đó là chưa tính các đơn vị phối hợp. Ví dụ: Để đề phòng đối phương có thể đột kích bằng đường không giải thoát tù binh chúng ta đã bố trí một lực lượng phòng không dày đặc trên các tòa nhà cao tầng xung quanh khu vực Hỏa Lò sẵn sàng bắn hạ máy bay bay thấp và máy bay trực thăng cứu hộ.
       Ngoài ra còn có những đơn vị bộ binh công an vũ trang thậm chí có cả xe tăng thiết giáp luôn sắn sàng chiến đấu cao nếu phía Mỹ dám liều lĩnh như với trại tù binh Sơn Tây năm 1970.



Đại tá Trần Trọng Duyệt cựu Trại trưởng Trại tù binh Phi công Mỹ
( khi còn trẻ ) và hiện nay.


Toàn cảnh Hỏa Lò - Trại tù binh Phi công Mỹ năm xưa.

More...

Phi công Mỹ ở Việt Nam ( kỳ 3)

By

 

 Kì 3 :   Lật lại hồ sơ mật hơn 50 năm trước: Tổng thống Mỹ đã tán thành kế hoạch ném bom nguyên tử xuống... Điện Biên Phủ?

         Theo một tài liệu nghiên cứu gần đây chúng tôi có được thì Tổng thống thứ 34 của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ Dwight D.Eisenhower ngay sau khi tiếp quản Nhà Trắng (20 tháng 1 năm 1953) đã tỏ ra quan tâm đặc biệt đến Đông Dương trong đó có Việt Nam. Eisenhower đã cho thành lập một Ủy ban đặc biệt về Đông Dương (The Special Committee on Indochina) do Walter B. Smith thứ trưởng Bộ Ngoại giao làm Trưởng ban và Nhóm công tác đặc biệt về Đông Dương (The Special Working Group on Indochina) do tướng Grave B. Erskine cầm đầu.

Ngày 30 tháng 7 năm 1953 Quốc hội Mỹ đã chuẩn chi 400 triệu đô-la để hỗ trợ Pháp theo đuổi chiến tranh ở Đông Dương. Hai tháng sau ngày 30 tháng 9 Chính phủ Mỹ lại cấp thêm 385 triệu đô-la nữa. Sau này người ta đã tính rằng: Hồi đó Mỹ đã trang trải đến hai phần ba chi phí chiến tranh Đông Dương!

Chưa hết để động viên Pháp Eisenhower đã cử Phó tổng thống Richard Nixon sang Việt Nam. Ngày 4 tháng 11 năm 1953 Nixon tuyên bố tại Hà Nội: "Không thể hạ vũ khí cho đến khi nào đạt được chiến thắng hoàn toàn". Rồi ông ta đến tận Ghềnh (Ninh Bình) để thăm quân Pháp đang tiến hành cuộc hành quân Hải Âu.

Khi tướng Navarre bắt đầu thực hiện cuộc hành quân "Hải Ly" vào ngày 20 tháng 11 năm 1953: lần lượt 16.000 quân Pháp đã được những máy bay vận tải C-47 do Mỹ viện trợ đưa đến thung lũng Điện Biên Phủ dựng lên một tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương với hy vọng sẽ "nghiền nát" quân đội của Việt Minh.

Ngày 20 tháng 2 năm 1954 Mỹ viện trợ cho Pháp thêm 40 máy bay các loại từ ném bom B-26 đến vận tải C-47 C-119... Cũng trong tháng đó Mỹ còn gửi sang Việt Nam 200 lính kỹ thuật thuộc Đơn vị phục vụ Không quân số 81 để giúp Pháp bảo trì và sửa chữa các máy bay mà Mỹ đã cung cấp.

Trước đó sau khi tướng Henri Navarre của Pháp đề nghị giúp đỡ Hoa Kỳ đã quyết định trợ giúp Pháp 12 máy bay C-119 cùng 37 phi công nhưng lại yêu cầu các máy bay mang phù hiệu của Pháp để tránh sự chỉ trích ở trong nước và dư luận quốc tế.

Giữa tháng 3 năm 1954 khi tình hình chiến sự bi đát Mỹ vội vàng giúp Pháp lập cầu hàng không từ Hà Nội lên Điện Biên Phủ. Báo U.S News and World Report tường thuật: "Mỗi ngày gần 100 máy bay vận tải DC-3 đã hạ xuống sân bay trong tầm súng cối của Cộng sản vận chuyển từ 200 đến 300 tấn hàng tiếp tế. Thêm vào đó là 30 máy bay vận tải cỡ lớn C-119 mỗi sáng thả dù từ 100 đến 150 tấn hàng tiếp tế khác. Tất cả các máy bay của cầu hàng không đều do Mỹ giúp".

Không chỉ giúp máy bay Mỹ còn cung cấp cả người lái. Các Phi công Mỹ đã âm thầm thực hiện gần 700 phi vụ tại Điện Biên Phủ trong cuộc chiến được họ mô tả là "một trong những trận đánh vĩ đại của thế kỷ 20". Bởi thế vai trò của 37 phi công Hoa Kỳ trong cuộc bao vây 57 ngày ở Điện Biên Phủ năm 1954 từ trước tới nay còn là một bí mật rất ít người biết tới.

Thậm chí khi Điện Biên Phủ có nguy cơ thất thủ Đô đốc Arthur W.Radford Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân Mỹ đã soạn ra kế hoạch can thiệp quân sự trực tiếp vào Việt Nam. Bản kế hoạch tuyệt mật này được gọi là là "Cuộc hành quân Chim Kên Kên" (Operation Vulture). Theo đó Mỹ sẽ dùng 60 máy bay ném bom hạng nặng B.29 Superfort (mỗi chiếc có thể chở 8 tấn bom) cất cánh từ căn cứ không quân Clark Field ở Philippines để ném bom rải thảm mỗi đợt khoảng 450 tấn bom xuống các vị trí của bộ đội Việt Nam ở Điện Biên Phủ đồng thời dùng 150 máy bay chiến đấu (từ các hàng không mẫu hạm của Hạm đội số 7 hoạt động trong Vịnh Bắc Bộ) để hộ tống các máy bay ném bom nói trên...

Để che giấu bàn tay can thiệp của Mỹ Radford đề nghị xoá bỏ phù hiệu của không quân Mỹ trên thân máy bay và lập một phi đoàn tình nguyện quốc tế bằng cách thuê phi công thuộc nhiều quốc tịch khác nhau.

Ngoài loại bom thường (mỗi quả nặng 2 tấn) Radford còn đề nghị sử dụng 3 quả bom nguyên tử chiến thuật (tactical atomic bombs). Theo các chuyên gia của Lầu Năm Góc tính toán: "chỉ cần 3 quả bom nguyên tử chiến thuật sử dụng cho đúng thì cũng đủ nghiền nát lực lượng Việt Minh ở Điện Biên Phủ".

 Bản Kế hoạch tuyệt mật trên của Radford đã được Tổng thống Mỹ Eisenhower Phó tổng thống Nixon Dulles tướng Nathan F.Twining (Tham mưu trưởng Không quân Mỹ)... tán thành. Rất may khi đưa ra Quốc hội nó đã bị một số nghị sĩ phản đối. Họ đặt điều kiện: "Quốc hội sẽ không ủng hộ việc Mỹ can thiệp quân sự vào Việt Nam chừng nào Chính phủ không được các đồng minh - đặc biệt là nước Anh - cam kết có hành động chung".

Nhưng ngày đó nước Anh đã không muốn can thiệp quân sự vào Việt Nam mà chỉ mong chiến tranh Đông Dương sớm kết thúc thông qua đàm phán ở Geneva. Lập trường của Anh là "không định làm gì hết ở Đông Dương trước khi Hội nghị Geneva có kết quả".

Vậy là kế hoạch mang mật danh "Cuộc hành quân Chim Kên Kên" đã bị phá sản. Nếu không chẳng ai biết được hậu quả khôn lường khi những quả bom nguyên tử được Mỹ ném xuống Điện Biên Phủ. Sẽ có thêm bao nhiêu nạn nhân chiến tranh? Và có thêm bao nhiêu Phi công Mỹ sẽ bị chết bị bắt ở Việt Nam?    




Pháo đài bay B-29 (ảnh trên) và máy bay vận tải C-119 (ảnh dưới)
của Không quân Mỹ cứu viện quân Pháp ở Điện Biên Phủ.

                                                            ĐẶNG VƯƠNG HƯNG
                                                                    ( còn nữa )

More...

Phi công Mỹ ở Việt Nam (kỳ 2)

By

 

               PHI CÔNG MỸ Ở VIỆT NAM


Kì 2:      Đến nhóm đặc nhiệm "Con Nai"

            và quan hệ Việt - Mỹ năm 1945

Theo thỏa thuận giữa Lãnh tụ Hồ Chí Minh và Tướng Mỹ Chennault tháng 7 tháng 1945 một đơn vị tình báo đặc nhiệm mang bí danh "Con Nai" (The Deer Team) thuộc tổ chức OSS (The Office of Strategic Services tiền thân của CIA Mỹ) đại diện cho quân Đồng Minh đã nhảy dù xuống Tân Trào để phối hợp với Việt Minh chống phát xít Nhật.

Nhóm "Con Nai" ở cách Tân Trào 3 km trước đó đây là  nơi dành cho các lớp bồi dưỡng chính trị nay thành thao trường huấn luyện của Việt Minh. Họ phân công nhau mỗi người mỗi việc trong đó có người làm bác sĩ đã từng chữa bệnh cho Bác Hồ khi Người bị ốm. Vũ khí thuốc men thực phẩm của họ đều được tiếp tế bằng máy bay. Tuy nhiên cả nhóm vẫn dùng thực phẩm của địa phương như cơm ngô măng rừng rau và thịt gà...

Nhóm "Con Nai" đã tích cực tham gia huấn luyện quân sự cho lực lượng của Việt Minh tổ chức tiếp tế một số vũ khí hạng nhẹ hàng quân sự cho Việt Minh. Để làm việc này họ đã cố vấn cho ta xây dựng một sân bay dã chiến ở Lũng Cò cách Tân Trào khoảng 8 km về hướng Tây Bắc.

Lũng Cò (nay thuộc thôn Đồng Đon xã Minh Thanh huyện Sơn Dương tỉnh Tuyên Quang) có một dải đất rộng khoảng 4 héc-ta nằm trong một thung lũng hẹp bốn xung quanh được bao bọc bởi các ngọn núi và những quả đồi thấp cây cối um tùm rậm rạp rất phù hợp để xây dựng một sân bay dã chiến tiếp nhận máy bay chở hàng viện trợ của quân Đồng Minh. Giữa tháng 6 năm 1945 khoảng 200 người dân địa phương đã lao động với tinh thần cố gắng hết mình. Dự kiến công việc làm trong một tuần nhưng với quyết tâm cao và nhiệt tình cách mạnhg nên chỉ sau có hai ngày phát dọn san gạt đầm một sân bay dã chiến đã hình thành. (Có lẽ đó là một trong những "kỷ lục" xây dựng sân bay nhanh nhất thế giới!). Sân bay Lũng Cò có chiều dài 400 mét và rộng 20 mét đường băng trải dài theo hướng Nam- Bắc. Các cán bộ ở đây đã cắm những lá cờ trắng ở hai bên làm hoa tiêu loại máy bay vận tải hạng nhẹ L5 của Không quân Mỹ có thể hạ cánh và cất cánh an toàn. Đây là sân bay đầu tiên do chính bàn tay và khối óc của chúng ta làm nên và cũng có thể coi đây là "Sân bay Quốc tế" đầu tiên của Chính quyền Cách mạng Việt Nam. Sân bay Lũng Cò đã tiếp nhận thành công hàng chục chuyến bay của quân Đồng Minh do Phi công Mỹ lái. Đó cũng là nơi Chính phủ ta thực hiện nhiệm vụ quốc tế là đưa những người Pháp bị Nhật cầm tù ở Tam Đảo trở về nước vào cuối tháng 7 năm 1945.

Tiếp đó Nhóm đặc nhiệm "Con Nai" đã cùng các chiến sĩ Việt Minh thành lập "Đại đội Việt - Mỹ" khoảng 200 người do đồng Đàm Quang Trung (sau này là Thượng tướng Uỷ viên Trung ương Đảng Tư lệnh Quân khu Một Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước) chỉ huy Thiếu tá A.K.Thomas làm cố vấn nhằm chung mục tiêu chống phát xít Nhật. Chính đơn vị này đã tham dự lễ xuất quân từ cây đa Tân Trào sau Quốc dân Đại hội và Quân lệnh số 1 phát động khởi nghĩa. Họ đã cùng chúng ta hành quân qua Thái Nguyên về tận Hà Nội. Cho dù sau đó những người lính Mỹ này đã được lệnh cấp trên "án binh bất động" (họ ngồi im xem Việt Minh và Nhật đánh nhau) thì đó vẫn là lực lượng nước ngoài duy nhất đứng bên cạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh trong cuộc Cách mạng Tháng Tám.

Trước khi trở về nước những thành viên của của nhóm "Con Nai" đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi gắm một sứ mệnh đặc biệt: chuyển giúp thư của Người đến Chính phủ Mỹ đề nghị Tổng thống Truman công nhận độc lập của Việt Nam! Nhưng tiếc là thời điểm ấy nước Mỹ chỉ tập trung quan tâm đến châu Âu bỏ qua khu vực Đông Nam Á. Và lịch sử đã đi theo hướng khác: hai nước trở thành đối thủ trong cuộc chiến 20 năm...

Nửa thế kỷ sau vào ngày 12 tháng 10 năm 1995 tại Hà Nội có cuộc gặp với những người bạn Mỹ Charles Fenn có mặt. Sau 50 năm Charles Fenn đã ở tuổi gần 80 nhưng những ấn tượng sâu sắc về Lãnh tụ Hồ Chí Minh thì vẫn nguyên vẹn trong ông: "Chúng tôi gặp một người có vóc dáng mảnh khảnh đi dép tại quán cà phê Đông Dương. Người này có đôi mắt sáng ngời có sức hấp dẫn đặc biệt. Đó chính là Hồ Chí Minh. Tướng Chennault cảm ơn về việc Việt Minh cứu viên Phi công Mỹ rồi hỏi: "Chúng tôi có giúp gì được các ông không?" Hồ Chí Minh nói: "Tôi muốn có tấm hình của ông làm kỷ niệm. "Rồi hai người ngồi uống nước rất thân mật với nhau. Tôi nhớ lúc đó Cụ Hồ đã nói với các cán bộ đi theo rằng: "Người Mỹ là bạn của chúng ta như tướng Chennault là bạn của tôi đây này." Những ngày tháng bên cạnh Hồ Chí Minh đã để lại trong tôi một ấn tượng mạnh."

   Vậy là từ việc cứu giúp một Phi công Mỹ nhảy dù xuống Việt Nam năm 1944 với tài ngoại giao của Lãnh tụ Hồ Chí Minh đã dẫn đến quan hệ hợp tác Việt - Mỹ năm 1945. Đó là sự hợp tác hai bên cùng có lợi sự giúp đỡ của những người bạn Mỹ rất đáng trân trọng. Chúng ta cần tranh thủ mọi lực lượng trong những ngày chuẩn bị giành Chính quyền Tháng Tám năm 1945 lịch sử. Rất tiếc mối quan hệ đó không được lâu dài khi Nhật tuyên bố đầu hàng Đồng Minh thì chính quyền Mỹ quay lại ủng hộ Pháp xâm lược Đông Dương. Họ đã viện trợ rất nhiều vũ khí hàng quân sự cho Pháp đánh lại Việt Minh; thậm chí còn trực tiếp cho Phi công Mỹ lái C-119 mang phù hiệu của Pháp chở hàng tiếp cho quân Pháp ở Điện Biên Phủ. Sự thật này phải hơn 50 năm sau mới tình cờ được tiết lộ...

Những Phi công Mỹ bị bắn rơi

và chết lặng lẽ ở Điện Biên Phủ...

Nhà văn Nguyễn Trần Thiết đã cung cấp cho bạn đọc một chi tiết thú vị:Vào cuối thập niên 70 nghĩa là sau khi người Mỹ đã cam chịu thất bại kết thúc cuộc chiến tranh Việt Nam không lâu một nhà nghiên cứu lịch sử là Tiến sĩ William Learay đã tình cờ tìm thấy trong văn khố lưu trữ Hoa Kỳ một tài liệu có đóng dấu "mật". Ông đọc và sửng sốt khi phát hiện sự kiện có hai Phi công Mỹ tên là James B.Mc Govern và Wallace A Buford đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ với quân đội Pháp.

Đặc biệt là chiếc máy bay kiểu C-119 do hai Phi công Mỹ kể trên lái đã bị cao xạ pháo Việt Nam bắn rơi ngày 6 tháng 5 năm 1954. Nghĩa là chỉ trước khi Tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương của Pháp bị thất thủ có một ngày. Điều trớ trêu đáng buồn hơn là họ tên của những người lính Phi công Mỹ này lại không được ghi trên bia tưởng niệm những người Mỹ đã chết ở Việt Nam.

Năm 1998 cơ quan Tìm kiếm tù binh và những người Mỹ mất tích ở Việt Nam phát hiện ra xác chiếc C-119 loại máy bay vận tải hai thân lớn chuyên thả dù tiếp tế cho lính Pháp ở Điện Biên bị rơi trên đất Lào. Nhưng hài cốt tìm thấy lại không phải những người mà Mỹ đang cần.

Người ta lục trong hồ sơ cũ thấy ngoài bức điện của De Castries Tư lệnh Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ báo cáo với tướng Henri Navarre thông tin về máy bay C-119 rơi còn có một sĩ quan Pháp tại Lào cho biết một chi tiết đáng chú ý: Dân làng Sót thuộc Mường Hét đã chôn hai người Mỹ trong hai ngôi mộ xây theo kiểu Đạo Phật.

Nhưng đáng ngạc nhiên là tất cả mọi nguồn tin xoay quanh hai viên phi công nêu trên đều bị Bộ Quốc phòng Mỹ ỉm đi cố tình phớt lờ không chịu công bố. Chính quyền Mỹ muốn bưng bít sự thật về sự tham chiến của họ cùng Pháp ở Đông Dương chống lại Cách mạng Việt Nam.

Điều bí mật đó mãi đến đầu năm 2004 mới được phanh phui khi một người Mỹ tên là Douglas Paynter với tư cạch là đạo diễn phim tư liệu đã gặp Bộ Ngoại giao Việt Nam kể lại những điều ông đã biết và xin phép được tìm gặp và quay phim những nhân chứng lịch sử xoay quanh sự kiện này.

Một số cựu chiến sĩ Điện Biên của Việt Nam đã được mời đến gặp gỡ làm việc với Đạo diễn Mỹ Douglas Paynter trong đó có Đại tá Nguyễn Cần nguyên Đại đội phó Đại đội Cao xạ pháo 816 đơn vị trực tiếp tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ. Đại tá Nguyễn Cần đã khiến cho ông đạo diễn người Mỹ vô cùng xúc động khi đưa cho ông ta xem một cuốn sổ cũ. Đó là một cuốn nhật kí thời chiến ghi chép tại mặt trận. Trên một trang giấy kẻ ô-li cũ những dòng chữ đã ố vàng sau 50 năm nhưng còn đọc được: "Ngày 6 tháng 5-1954 Đại đội 816 bắn rơi một C-119 (thực tế là 2) rơi cách Điện Biên 120 km". Douglas Paynter đã coi Nguyễn Cần là một nhân chứng sống quý hơn vàng. Lính cao xạ thường có trí nhớ tuyệt vời. Ông Cần đã kể lại chi tiết từng trận đánh diễn ra 50 năm trước. Đặc biệt là những trận đơn vị ông bắn rơi máy bay đối phương thu được rất nhiều thịt hộp cá hộp bia rượu và chiến lợi phẩm khác...

Tạm biệt những Cựu chiến binh cao xạ Việt Minh Đạo diễn người Mỹ trân trọng lật tìm trong cuốn "Điện Biên Phủ điểm hẹn lịch sử" của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Tại trang 380 dòng thứ 8 từ trên xuống ông ta thấy một đoạn có ghi chuyện xảy ra ngày 6 tháng 5 năm 1954 như sau: "Pháo cao xạ bắn rơi một máy bay vận tải". Khẩu đội trưởng Khẩu đội 2 Nguyễn Thế Vinh kể lại chuyện cách đây nửa thế kỉ rất sinh động: Nghe đại đội trưởng Lại Văn Đan chỉ thị mục tiêu cả bốn nòng pháo đồng loại nổ súng nhả đạn chùm quanh máy bay. Quan sát viên trông thấy đạn trúng cánh trái chiếc thứ nhất. Cả hai chiếc C-119 thả vội dù lương thực thực phẩm... rồi bỏ chạy (có một số dù rơi vào trận địa C816). Chính trị viên Vũ Tuấn Chuyển biểu dương các khẩu đội đã bắn loạt đạn thứ hai trúng cả hai mục tiêu đặc biệt nhìn rõ đuôi chiếc thứ nhất bị toé lửa.

Đạo diễn Douglas Paynter làm phim tư liệu nên ông ta cần sưu tập những chứng cứ đầy sức thuyết phục và đặc biệt là những nhân chứng sống. Trước khi đặt chân lên mảnh đất Điện Biên thăm tại chỗ trận địa cao xạ pháo của Đại đội 816 người đạo diễn này đã may mắn tìm được viên phi công lái chiếc phi cơ thứ hai tại Điện Biên Phủ ngày đó tên là S. Kisac. Chính người cựu Phi công Mỹ này đã nhớ lại và thú nhận: "Hôm đó chúng tôi thống nhất với James và Wallace là bay ngược hướng với những chuyến bay trước để đánh lừa lực lượng phòng không Việt Minh. Nhưng chưa vào đến điểm thả dù thì một viên đạn đã trúng động cơ bên trái máy bay. Xăng phun mạnh. James tắt động cơ bên trái thả tất cả dù cho máy bay bay ra. Bất ngờ lại bị dính viên đạn thứ hai vào đuôi. Máy bay mất kiểm soát lao nhanh rồi đâm vào ngọn núi bốc cháy...

Vậy là tới năm 2004 nghĩa là tròn nửa thế kỷ sau cuộc chiến Điện Biên Phủ chính người Mỹ đã thừa nhận sự dính líu của mình. Họ đã đề nghị phía Việt Nam giúp đỡ tìm kiếm xác minh lại những chuyện xảy ra cách đây hơn nửa thế kỷ. Một sự thật đã được những người có trách nhiệm và những người lính cả hai phía chứng minh và không ai có thể phủ nhận! Chúng ta đã có đủ căn cứ để khẳng định rằng: Quân đội Mỹ đã trực tiếp tham chiến cùng với quân Pháp tại Việt Nam năm 1954. Hai Phi công Mỹ đã chết mất xác tại chiến trường Điện Biên Phủ. Có thể một ngày nào đó hài cốt của hai viên Phi công Mỹ sẽ được tìm thấy và tên của James B.Mc Govern Wallace A Buford sẽ được ghi tại đài tưởng niệm những người Mỹ chết tại Việt Nam?

Một năm sau vào tháng 2 năm 2005 đến lượt người Pháp đã công khai ghi công cho phi công Mỹ tại Điện Biên Phủ bằng cách trao tặng huân chương cho bảy phi công Hoa Kỳ từng đã tham gia những chuyến bay bí mật hồi năm 1954 nhằm giúp quân Pháp đang bị thất thế ở Điện Biên Phủ.

Hãng thông tấn Pháp AFP đã trích lời Đại sứ Pháp ở Washington hồi đó là Jean David Levitte nói tại buổi lễ trao Bắc đẩu Bội tinh (do Hoàng đế Napoleon lập ra năm 1802 và là một trong những huân chương cao quý nhất của nước Pháp) cho các phi công Hoa Kỳ rằng: "Nước Pháp muốn biểu dương sự dũng cảm của những người đã có nhiều chuyến bay tại Điện Biên Phủ".

Bởi thế Pháp đã chọn ra bảy cựu Phi công Mỹ để trao Bắc đẩu Bội tinh và sáu người trong số đó đã dự lễ trao huân chương tại Washington.


 Tướng Không quân Chennault đại diện quân Đồng  Minh


 Một số phi công của đơn vị " Hổ Bay" tại Côn Minh Trung quốc.


Sân bay Lũng Cò ở căn cứ Cách mạng Tân Trào- Tuyên Quang đang thi công


   Máy bay L5 của Quân Đồng Minh từ Côn Minh bay đến chuẩn bị hạ cánh
 xuống sân bay Lũng Cò năm 1945.
                                                                  ( còn nữa)
                                                            ĐẶNG VƯƠNG HƯNG

More...

Phi công Mỹ ở Việt Nam

By

 

               PHI CÔNG MỸ Ở VIỆT NAM

     Chiến tranh bao giờ cũng mang nhiều yếu tố kịch tính. Có những điều phải qua một thời gian dài mới có thể thấy được một cách rõ ràng chân thực. Nhưng cũng có những điều cứ mãi nằm trong bí mật. Giữa thế kỷ 20 đầy bão táp và biến động đất nước Việt Nam phải trải qua những năm tháng ngập chìm trong đạn bom và chết chóc. Nếu như trên mặt trận chống phát xít Nhật phi công Mỹ với Việt Minh là bạn thì sau năm 1945 khi nhân dân ta kháng chiến chống thực dân Pháp phi công Mỹ lại đứng về phía kẻ đi xâm lược. Đặc biệt trong "Cuộc chiến tranh Việt nam" mà người Mỹ thường gọi họ lại trực tiếp can thiệp và phải gánh chịu tổn thất lớn cả về sinh mạng vật chất lẫn tinh thần. Đó là một sai lầm có tính chất lịch sử của họ.

    Với tác phẩm " Những phi công Mỹ ở Việt Nam" ( NXB Công an Nhân dân - 2010 ) nhà văn Đặng Vương Hưng đã cung cấp cho người đọc những tình tiết mới của các sự kiện diễn ra ở các thời kì. Qua đó soi tỏ nét đẹp đầy nhân văn của con người Việt Nam từ vị lãnh tụ tối cao Hồ Chí Minh đến người lính cầm súng người dân bình thường luôn là bạn của những ai yêu chuộng hòa bình sẵn sàng chia ngọt sẻ bùi giúp đỡ nhau khi hoạn nạn. Tác phẩm là kết quả của sự đầu tư công sức tâm huyết tìm kiếm tập hợp và xử lý thông tin của nhà văn trong đó có những tư liệu lần đầu được công bố; lý giải được những vấn đề mà nhiều người Mỹ nhất là những nhà nghiên cứu đang muốn tìm hiểu chẳng hạn như sự kiện biệt kích Mỹ giải cứu phi công không thành ở Sơn Tây... Người đọc còn được biết thêm trong việc đánh pháo đài bay B52 không chỉ có quân và dân trong nước mà còn có cả Việt Kiều yêu Tổ quốc ở nước ngoài cũng " hiến kế đánh B52" một sự đóng góp trí tuệ của cả dân tộc dù người Việt nam sống ở bất cứ phương trời nào và nhiều chuyện thú vị về phi công Mỹ khi bị giam ở Hỏa Lò.

  Có thể nói cuốn " Phi công Mỹ ở việt Nam" của nhà văn Đặng Vương Hưng không chỉ phản ánh chân thực lịch sử mà nó còn hết sức có ý nghĩa khi mối quan hệ Việt Mỹ đang được cải thiện khi " đối thủ đã trở thành bè bạn".




     Lãnh tụ Hồ Chí Minh đồng chí Võ Nguyên Giáp cùng một số thành viên
nhóm tình báo "Con Nai" Mỹ tại Tân Trào năm 1945.





  Đại đội Việt - Mỹ làm lễ xuất quân.
 

Kì 1:   

   
BÁC HỒ VÀ NHỮNG PHI CÔNG MỸ ĐẦU TIÊN CÓ MẶT TẠI VIỆT NAM

Có một thời đã lâu lắm rồi Phi công Mỹ bị bắn rơi ở Việt Nam được coi là... đồng minh và là bạn của nhân dân Việt Nam. (Nếu trong kháng chiến chống Mỹ mà có ai viết hay nói như vậy thì đó là cả một sự xúc phạm ghê gớm một điều không thể chấp nhận và không dễ dàng tha thứ!).

Nhưng đó là một câu chuyện có thật liên quan đến một giai đoạn lịch sử quan trọng của dân tộc ta và Bác Hồ muôn vàn kính yêu. Sự kiện này mở đầu cho mối quan hệ bang giao Việt - Mỹ khi Cách mạng Việt Nam đang còn non trẻ trong trứng nước với muôn vàn khó khăn... Nhờ thế chúng ta đã tập hợp và tranh thủ được sự giúp đỡ của những người bạn trong phe Đồng Minh chống Phát xít góp phần cho Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công.

Những Phi công Mỹ đầu tiên có mặt tại Việt Nam đều xuất hiện trong những hoàn cảnh hết sức éo le chẳng ai giống ai. Bí mật về cuộc đời họ còn nhiều chi tiết chưa được tiết lộ và còn rất ít được biết đến.

Từ chuyện cứu một Phi công Mỹ nhảy dù tại Cao Bằng năm 1944...

Tại Viện Bảo tàng Cách mạng Việt Nam vẫn còn lưu giữ một ấn phẩm báo "Việt Nam độc lập" cơ quan của Mặt trận Việt Minh Cao Bắc Lạng do Lãnh tụ Hồ Chí Minh sáng lập và điều hành. Trong tờ báo này có một phụ bản rất độc đáo đó là một tranh vẽ gồm 8 bức hình liên hoàn hướng dẫn nhân dân cách cứu Phi công Mỹ. Nội dung mô tả theo trình tự từ lúc phát hiện ra máy bay Mỹ bị quân Nhật bắn rơi thấy dù của phi công trên trời xuống đến lúc giúp Phi công Mỹ chọn cất dù cải trang rồi đưa vào chiến khu giao cho đoàn thể... Phía trên những bức tranh liên hoàn ấy có vẽ hai lá cờ: sao vạch của Hoa Kỳ và cờ đỏ Sao Vàng của Việt Minh. Ở giữa hai lá cờ lại có một câu thơ: "Bộ đội Mỹ là bạn ta / Cứu Phi công Mỹ mới là Việt Minh". Bức tranh và câu thơ này đến nay vẫn được coi là do Bác Hồ trực tiếp vẽ. Không chỉ vẽ tranh mà Người còn yêu cầu dựng những tiểu phẩm kịch tả lại cách cứu phi công để các đội tuyên truyền xung phong của Việt Minh đi diễn trong các buổi sinh hoạt văn nghệ của dân vùng giải phóng vừa vui lại vừa cho dân dễ nhớ và dễ làm theo... Những chi tiết nêu trên có liên quan đến một câu chuyện thú vị xảy ra cách đây đã gần 70 năm...

Khoảng tháng 10 năm 1944 có một Trung uý Phi công Mỹ tên là William Shaw trong khi làm nhiệm vụ lái máy bay trên vùng trời biên giới Việt Nam - Trung Quốc đã bị quân Nhật bắn rơi xuống xã Đề Thám (huyện Hoà An tỉnh Cao Bằng) - Đây là vùng chiến khu của Mặt trận Việt Minh một tổ chức do lãnh tụ Hồ Chí Minh sáng lập không những tập hợp mọi lực lượng trong nước mà còn liên kết với các tổ chức ngoài nước với đại diện của các nước phe Đồng Minh trong mặt trận chống phát xít.

 Bởi thế Bác Hồ đã chỉ thị cho các lực lượng của ta phải bảo vệ chăm sóc Trung uý Shaw cẩn trọng và tìm cách đưa về Pác Bó: "Khi ở trên trời là người của họ xuống đây là khách của ta phải đón tiếp chu đáo". Vậy là sau khoảng 3 tuần leo đèo lội suối băng rừng ròng rã vượt qua sự lùng sục bao vây của quân Nhật người Phi công Mỹ nêu trên đã được đưa về Pác Bó gặp Bác.

Sau này Thượng tướng Phùng Thế Tài - người đầu tiên bảo vệ Bác từ khi Người về nước đã kể lại tâm trạng của người Phi công Mỹ ngày đó trong một hồi ký của mình:

"Sau gần một tháng trời miệng như câm có tai như điếc được gặp Bác được nghe tiếng nói của quê hương xứ sở viên Phi công Mỹ bàng hoàng sung sướng đến phát khóc. Anh ta hoàn toàn bất ngờ không hiểu tại sao giữa núi rừng của nước Việt Nam xa xôi này lại có cụ già trông rất quê mùa nói tiếng Anh giỏi đến thế. Ngạc nhiên hơn anh còn biết cụ già này đã từng đặt chân đến nước Mỹ ngay từ khi anh ta còn chưa sinh ra trên đời.

Tấm lòng nhân hậu của Lãnh tụ Hồ Chí Minh có tác dụng cảm hoá Trung uý Shaw mạnh mẽ. Bác còn tặng người Phi công Mỹ này bản "Chương trình Việt Minh" đã được Người trực tiếp dịch ra tiếng Anh.

Sau đó Trung uý Shaw đã trở thành "cầu nối" để lãnh tụ Hồ Chí Minh gặp tướng Claire Chennault (1893 - 1958) Tư lệnh Không đoàn 14 có biệt danh là đơn vị "Hổ Bay" của Mỹ đại diện cho lực lượng Đồng Minh tại vùng Hoa Nam (Trung Quốc). 

    ...Vượt ngàn cây số để kết nối với Tướng Không quân Mỹ

Để có cuộc gặp "không hẹn trước" với viên tướng Mỹ kể trên Lãnh tụ Hồ Chí Minh đã phải đi giày cỏ theo đường bộ vượt hàng ngàn km từ Pác Bó (Việt Nam) tới Côn Minh (Trung Quốc) trong sự kiểm soát gắt gao của các lực lượng thù địch.

Khi tới Côn Minh với cái cớ cần trao trả cho phe Đồng Minh viên Trung uý phi công Shaw được Việt Minh cứu sống khi máy bay bị quân Nhật bắn rơi trên chiến trường Bắc Đông Dương Bác Hồ đã tìm gặp một số người Mỹ để thăm dò và vận động sự công nhận đối với tổ chức Việt Minh như một thành viên trong lực lượng chống Phát xít. Trong số đó có Trung uý Charles Fenn - một sĩ quan Hải quân Hoa Kỳ được phái đến Côn Minh làm nhiệm vụ trong Cơ quan Hỗ trợ cho không quân tại mặt đất (AGAS).

Charles Fenn đã bị Lãnh tụ Hồ Chí Minh chinh phục hoàn toàn ông rất cảm tình với Mặt trận Việt Minh đã nhất trí việc đưa một số thiết bị thông tin và đào tạo các báo vụ viên cho Việt Minh. Tiếp đó Bác Hồ đã đề nghị Charles Fenn giúp đỡ để trực tiếp gặp và hội đàm với Tướng Chennault Tư lệnh đơn vị mang biệt hiệu "Hổ Bay" của Mỹ đang đóng bản doanh tại vùng Hoa Nam Trung Quốc cũng là người dại diện cao nhất của quân Đồng Minh tại khu vực. 

Tướng Chennault đã rất cảm động về sự giúp đỡ của Mặt trận Việt Minh đối với Trung uý phi công Shaw. Có lẽ ông đã nhận thấy trong lời nói của Hồ Chí Minh là quyết tâm của một dân tộc yêu chuộng hoà bình đứng về phe Đồng Minh chống phát xít: "Hiện nay phong trào du kích của chúng tôi tuy đang lên rất cao nhưng vũ khí thuốc men rất thiếu thốn. Chúng tôi đề nghị các ngài tạo điều kiện giúp đỡ để hai nước chúng ta có điều kiện mau chóng đánh bại phát xít Nhật..." Thái độ chân tình thẳng thắn của Bác cũng đã chinh phục được Chennault. Viên tướng Mỹ này đã hoàn toàn ủng hộ ý kiến của Lãnh tụ Hồ Chí Minh và hứa sẽ sẵn sàng giúp đỡ. Hai bên đã thoả thuận: Phía Việt Nam sẽ tăng cường lực lượng du kích và mở rộng phạm vi hoạt động của lực lượng này; cung cấp những thông tin tình báo và khí tượng cho không quân Mỹ hoạt động trên chiến trường chống Nhật ở miền Bắc Đông Dương... Ngược lại phía quân Đồng Minh có trách nhiệm đưa các phái đoàn quân sự sang giúp đỡ Việt Nam huấn luyện quân sự đồng thời trang bị vũ khí điện đài và các trang thiết bị khác.

Thượng tướng Phùng Thế Tài người chứng kiến buổi chiêu đãi của tướng Chennault dành cho Lãnh tụ Hồ Chí Minh ngày đó đã kể lại tài ngoại giao của Bác Hồ trong hồi ký của mình:

"Quan khách cũng khá đông và là những nhân vật có tầm cỡ. Có cả tướng Lư Hán Tư lệnh quân Tưởng ở Vân Nam; tướng Trương Phát Khuê Tư lệnh đệ tứ chiến khu chỉ huy toàn bộ vùng Lưỡng Quảng. Ngoài ra còn có Long Vân tỉnh trưởng Vân Nam và một số quan khách khác. Buổi chiêu đãi thật long trọng... Đặc biệt với Bác tôi thấy mọi người đều trọng vọng và cách ứng xử của Bác thật tuyệt vời hết sức tự nhiên mà lại đàng hoàng chững chạc. Với Chennault và với các tướng Mỹ khác Bác nói bằng tiếng Anh. Bác kể chuyện những ngày ở London ở New York... Với Lư Hán Long Vân thì Bác nói bằng tiếng Trung Quốc. Bác nói vui với hai người này là tôi đã từng "trú ngụ trong địa phận cai quản" của các ngài từ năm 1940 bây giờ mới hân hạnh gặp mặt thật là một thiếu sót. Cả bàn tiệc cười vang vui vẻ...".

Chennault kính trọng Lãnh tụ Hồ Chí Minh và tặng Người tấm ảnh của mình với dòng chữ: "Bạn chân thành của tôi". Sau đó viên tướng Mỹ này đã chỉ thị cho Trung uý Charles Fenn thuộc cơ quan chiến lược tình báo Mỹ tại Trung Quốc thực hiện hợp tác với Mặt trận Việt Minh.

Khi Lãnh tụ Hồ Chí Minh về nước đã có hai người Mỹ là Frank Tan và Mac Shin cùng sang giúp chúng ta về điện đài. Về sau còn có Jonh một báo vụ viên OSS và một số người khác nữa. Những người bạn Mỹ được Việt Minh đón tiếp chu đáo tạo mọi điều kiện để làm việc. Họ đã giúp Việt Minh một số điện đài vũ khí và hướng dẫn người của ta sử dụng.

Căn cứ của Mặt trận Việt Minh sau đó cũng được chuyển từ Pác Bó (Cao Bằng) sang Tân Trào (Tuyên Quang) để thuận lợi hơn cho sự phát triển lực lượng với các hoạt động lớn sau này.


More...

Nơi chúng tôi đến

By


      HÀ KHẨU SA PA NƠI CHÚNG TÔI ĐẾN

       
           Cùng nhà thơ Trần Nhương ( trannhuong.com) tại thị trấn Hà Khẩu ( Trung Quốc)

       
          Phóng viên Đắc Sơn thưởng thức thuốc lào từ "ba dô ca" )
      của một nhà hàng trong thị trấn Hà Khẩu.

        
              Một góc Sa Pa.
     
        
                Tiết mục trong đêm khai mạc Lễ hội.

        
           Trước nhà thờ đạo- nơi thường xuyên tấp nập.

        
         Sản phẩm của bà con trong vùng được bày bán bên hè đường.


        
          Các cô gái luôn theo sát khách nước ngoài để chào hàng.


        
             Địu em cùng đi chơi.

       
            Các cô gái bán thuốc nam.

       
            Mang hàng xuống phố.


       
         Chụp tấm hình lưu niệm.

       
            Hai chị em.

        
          Các cô gái bán hàng cho khách khá thạo tiếng Anh không cần phiên dịch.

         
              Ông lão thổi kèn lá.

         
             Niềm vui rạng ngời từng khuôn mặt.    

         
            Vang tiếng kèn lá gọi bạn.

          
              Trai gái gặp nhau trong đêm chợ tình. 

More...

Một Đại tá 20 năm không có lương hưu

By


   

       Một cán bộ cao cấp trong quân đội 20 năm không có lương hưu - chuyện thật như đùa! Báo Người cao tuổi số 35 ra ngày 29 - 4 - 2010 đã có bài viết về điều này: 

       
MỘT ĐẠI TÁ 20 NĂM KHÔNG CÓ LƯƠNG HƯU

                               
                       Đại tá Vũ Quang Kha ( người mang quân phục) và Thượng tướng
                     Anh hùng LLVTND Phan Trung Kiên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.

 

                                             Kim Quốc Hoa- Đặng Vương Hưng    
          Vào lính Vệ quốc đoàn trước Cách mạng Tháng Tám từng đánh trận ở Điện Biên Phủ từng làm nhiệm vụ đặc biệt gìn giữ thi hài Bác Hồ từng là cán bộ nghiên cứu Lịch sử Quân sự lặn lội tận đảo Trường Sa đảng viên 50 năm tuổi Đảng được phong quân hàm Đại tá tháng 12-1987 đó là Đại tá Vũ Quang Kha. Ông đã bị "quên lãng" suốt 20 năm trời (1989 - 2009) chỉ vừa mới được phục hồi chế độ chính sách và danh dự của một sĩ quan cao cấp nhưng câu chuyện ông kể vẫn sáng ngời phẩm chất của "Anh bộ đội Cụ Hồ" đã đi qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ...


   Người thông thạo ba ngoại ngữ

 Đại tá Vũ Quang Kha kể: "Tôi sinh năm 1930 tại xã Phượng Dực huyện Phú Xuyên tỉnh Hà Đông (nay Hà Nội) là con ông Dương Quý Thiêm và bà Bùi Thị Thân. Cha mẹ đặt cho tôi cái tên là Dương Khả. Nhưng khi tôi nhập ngũ (13-6-1945) tham gia Đội vệ quốc quân thuộc Chi đội Ba Xã huyện Bình Gia tỉnh Lạng Sơn đội do đồng chí Hoàng Long Xuyên Chi đội trưởng đứng đầu ông bảo tôi đổi ngay tên là Vũ Quang Kha. Bởi vì "khả" tiếng dân tộc Tày nghĩa là "giết". Nếu không đổi mỗi lần có ai gọi "Khả ơi" lại bị bà con dân tộc hiểu nhầm thành "giết đi!". Từ đó tôi đã quyết định đổi cả họ tên Dương Khả thành Vũ Quang Kha với hi vọng cái tên đó sẽ mang lại cho mình sự mạnh mẽ và quang minh chính đại".

Người lính già đã bước qua tuổi 80 bắt đầu câu chuyện của mình như thế. Ông tiếp chúng tôi trong một ngôi nhà nhỏ ở đầu đường Vạn Kiếp ngoài đê Sông Hồng. Căn phòng chỉ rộng khoảng 40 m2 bề bộn đồ đạc cũ kĩ và sơ sài ngổn ngang chăn màn quần áo. Chiếc bàn viết chật chội. Chiếc ghế duy nhất đã vỡ mặt thủng chỗ ngồi người ta bỏ đi từ lâu ông nhặt về lót thêm cái chăn chiên dùng tạm. Đồ đạc trong phòng không có gì gọi là giá trị. Có lẽ chỉ bộ quân phục màu cỏ úa gắn sẵn quân hàm Đại tá và rất nhiều Huân Huy chương... xem ra có giá nhất. Rồi các bằng khen những cuốn sách cũ bằng tiếng Nga giấy đã ố vàng xếp hàng chồng lộn xộn.

"Ơn cha mẹ sinh thành và dưỡng dục cho tôi sức khỏe và trí nhớ không đến nỗi nào ơn Đảng và Quân đội cho đi học tập đào tạo. Tôi có 2 năm học trường lục quân bên Trung Quốc và 5 năm học Luật Quốc tế và tiếng Pháp ở bên Liên Xô cũ nên giờ tôi sử dụng thành thạo cả 3 ngoại ngữ: Tiếng Pháp tiếng Trung Quốc và tiếng Nga" - Ông Kha không giấu nổi tự hào. Rồi để chứng minh điều mình vừa nói vị Đại tá nói một tràng tiếng Trung. Ông dịch chúng sang tiếng Pháp rồi say sưa hát một bài ca bằng tiếng Nga...

"Hồi làm việc với các chuyên gia Liên Xô trong việc bảo vệ thi hài Bác Hồ các chuyên gia đều thừa nhận tôi phát âm chuẩn như người Nga" - Ông Kha cho biết.

Đó là những năm từ 1969 đến 1973 quãng thời gian vinh dự và đáng nhớ nhất trong cuộc đời công tác của Đại tá Vũ Quang Kha. Giữa năm 1969 khi đang công tác tại Cục Bảo vệ - An ninh Quân đội ông Kha là cán bộ duy nhất được Quân uỷ Trung ương chọn và chỉ định tham gia một nhiệm vụ đặc biệt: Giữ gìn thi hài Bác Hồ. Là cấp dưới mẫn cán của tướng Lê Kính Chi Cục trưởng cục Bảo vệ - An ninh quân đội sau ông Chi làm Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nghĩa là trước khi Bác mất 3 tháng ông Kha đã được giao nhiệm vụ bí mật làm công tác chuẩn bị tìm hiểu các tài liệu về cơ thể học giải phẫu ướp xác... Sau Lễ tang Chủ tịch Hồ Chí Minh ông Kha đã có khoảng thời gian 4 năm liền trực tiếp làm việc cùng Tổ Y tế đặc biệt và phiên dịch cho các chuyên gia Liên Xô trong nhiệm vụ giữ gìn thi hài của Bác tại Viện Quân y 108 và tại khu K9 - Đá Chông Ba Vì (Sơn Tây).

Ngày đó Vũ Quang Kha được giao trọng trách là Trưởng Ban Ngoại vụ. Ban công tác này có khoảng 30 cán bộ nhân viên được tuyển chọn kĩ càng chuyên phục vụ cho các chuyên gia Liên Xô sang Việt Nam giữ gìn lâu dài thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh. Vì yêu cầu nhiệm vụ chính ông Kha đã nhiều lần trực tiếp dùng tay không nâng thi hài của Bác trong dung dịch formon. Ông Kha đã 9 lần bị ngộ độc formon có một lần bị nặng phải cấp cứu. Thậm chí tháng 10-1973 Vũ Quang Kha đã chết lâm sàng 24 tiếng đồng hồ. Đơn vị và gia đình đã bàn chuyện lo "hậu sự" thì ông sống lại. Hậu quả của việc ngộ độc hóa chất đó còn ảnh hưởng đến tận bây giờ khiến ông Kha vẫn nhiều lần phải vào viện định kì để xử lí tiêu độc.

Năm 1974 do sức khoẻ yếu Vũ Quang Kha được điều trở lại công tác ở Cục Bảo vệ - An ninh Quân đội. Năm 1979 khi chiến tranh biên giới xảy ra ông Kha được lên Quân khu II làm Trưởng Phòng Ngoại vụ. Cuối năm 1981 cấp trên điều ông về Hà Nội làm Cán bộ nghiên cứu của Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam cho đến ngày... "nghỉ hưu" không có lương.


     Vị đại tá 20 năm bị  "lãng quên" không có lương thật

   Dù nhập ngũ từ trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã kinh qua 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ từng chiến đấu ở Điện Biên Phủ rồi đường 9 - Nam Lào lại có vinh dự đặc biệt 4 năm làm nhiệm vụ tham gia giữ gìn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1987 ông Vũ Quang Kha mới được phong hàm Đại tá (Quyết định số 992/QPT của Bộå trưởng Bộ Quốc phòng - Đại tướng Lê Đức Anh kí ngày 29-12-1987).

Vốn là người năng động ham học hỏi tìm tòi và mong muốn được cống hiến trong mấy năm công tác ở Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam ông Kha đã dồn tâm sức dịch bộ sách quý "Lịch sử chiến tranh và nghệ thuật quân sự" dày cả nghìn trang in được xuất bản năm 1986; nhuận bút được cơ quan trả chỉ đủ mua...  4 kg thịt lợn. Đại tá Vũ Quang Kha còn cùng một số nhà khoa học say sưa nghiên cứu và giới thiệu loại vật liệu xây dựng đó là chất phụ gia OK1 của nhà khoa học Lê Công Hầu có tác dụng chống thấm đặc biệt có thể ứng dụng cho Công trình Quốc phòng xây dựng biển đảo. Ông Kha khẳng định: OK1 có khả năng sử dụng nước biển cát biển và đá biển để xây dựng công trình không phải vận chuyển các vật liệu từ đất liền ra đảo tiết kiệm được nhiều kinh phí phương tiện nhân lực. Đại tá Vũ Quang Kha đề nghị Bộ Quốc phòng cử mình ra... Đảo Trường Sa để khảo sát chứng minh thực tế.

Đó là những năm 1988 - 1990. Lẽ ra khi một cán bộ Quân đội xung phong đi làm nhiệm vụ tại đảo Trường Sa thì phải được đơn vị ưu tiên động viên khen thưởng. Nhưng với Đại tá Vũ Quang Kha thì ngược lại. Ông bị trả một giá quá đắt. Nhân cơ hội ông vắng mặt ở Hà Nội một vị tướng thủ trưởng trực tiếp vì không ưa cái tính cương trực thẳng thắn của ông đã buộc ông phải nghỉ hưu vào những ngày ông còn đang lặn lội nơi đảo xa. Khi về tới Hà Nội ông không nhận được quyết định bằng văn bản (chỉ thông báo mồm) rồi từ đó cũng không cho ông hưởng chính sách của một sĩ quan cao cấp. Ông Kha chấp hành về nhà ngay tắp lự cùng vợ tần tảo kiếm sống

Vậy là trong suốt 20 năm (1989 - 2009) Đại tá Vũ Quang Kha như bị người ta bỏ  rơi và "quên lãng". Hằng tháng ông không có lương cũng không biết sinh hoạt Đảng tại đâu. Trong Đơn khiếu nại ngày 10-9-2009 gửi Lãnh đạo Bộ Quốc phòng người lính già viết: "20 năm qua tôi đã viết hàng trăm lá đơn xin về hưu và xin được nhận lương gửi các thủ trưởng Bộ Quốc phòng và Bộ Tổng Tham mưu nhưng vẫn chưa có văn bản trả lời và giải quyết".

Trong 20 năm ấy vì không có lương nên vị Đại tá đã phải sống nhờ vợ là bà Trần Thị Nhân một cán bộ hưu lương thấp phải cặm cụi sớm tối bán trứng vịt lộn và đi nhặt ve chai bán để nuôi gia đình. Người đàn bà đảm đang ấy không chỉ nuôi chồng "Đại tá không lương" mà còn nuôi cả 3 đứa con ăn học rồi cả ba tốt nghiệp đại học. Thu nhập quá ít hai ông bà đành đi vay nợ nhiều nơi để cầm cự cuộc sống để tồn tại và hi vọng.

Chưa bao giờ mất niềm tin vào Đảng và Quân đội hằng ngày Đại tá Vũ Quang Kha vẫn lạc quan làm thơ vẫn hát vẫn nghiên cứu những "Điều răn" và chữ "Nhẫn" của nhà Phật. Ông còn đều đặn ghi nhật kí và những câu châm ngôn nổi tiếng gần xa kín cả 5 cuốn sổ luôn động viên vợ con sống cho tốt xây dựng gia đình có văn hóa...

Rồi vào một ngày đầu năm 2010 Nhà văn Diệu Ân (cùng Tổng Biên tập Báo Người cao tuổi Kim Quốc Hoa) đã giúp Đại tá Vũ Quang Kha bằng cách đưa ông đến nhà riêng Thượng tướng Anh hùng LLVTND Phan Trung Kiên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng trình bày cụ thể nguồn cơn. Ngay lập tức các cơ quan chức năng đã vào cuộc...  Thì ra chuyện một vị Đại tá bị "lãng quên" 20 năm là có thật 100%! Người ta đã có văn bản kết luận về việc phải giải quyết chính sách nghỉ hưu đối với Đại tá Vũ Quang Kha. Ngày 22-1-2010 thông qua Bảo hiểm xã hội quận Tân Bình TP Hồ Chí Minh (nơi Đại tá Vũ Quang Kha đăng kí địa chỉ nghỉ hưu) ông nhận được số tiền truy lĩnh lương trong 20 năm là 385 triệu đồng và chênh lệch lương 4 năm đầu (1989-1992) là 40 triệu đồng. Số tiền đó vị Đại tá mang về trả nợ những ân nhân đã cho mình vay mượn sống qua ngày trong 20 năm qua trả hết tiền mà vẫn thiếu phải còn nợ của 5 người 80 triệu đồng nữa.

"Nhưng với tôi thế cũng là vui và hạnh phúc lắm rồi - Đại tá Vũ Quang Kha tâm sự - Nhiều đồng đội của tôi đã nằm lại chiến trường không trở về. Không phải "Anh bộ đội Cụ Hồ" nào cũng may mắn đi qua 2 cuộc kháng chiến được chứng kiến ngày toàn thắng 30-4. Tôi sẽ mặc lễ phục đeo hàm Đại tá và cài Huân Huy chương trong ngày kỉ niệm 35 năm giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước!"


     

More...

Cửa Bắc

By


       

         
                  

              CỬA BẮC


            Mặt Cổng Thành nhói buốt cả trăm năm

             Nỗi đau ấy lặn vào lịch sử

             Đến hôm nay chuyện chưa hề cũ

             Góc chứng nhân u uất thuở điêu tàn


             Vết đạn cày xới nát cả tâm can

             Ngày Hoàng Diệu sôi máu đào tuẫn tiết

             Giờ hàng sấu bên đường hết buồn xao xác

             Nắng ấm tràn tan chảy mọi tái tê


             Bốn mùa đi qua tất bật người xe

             Lặng lẽ đứng Cổng Thành ngạo nghễ

             Thổn thức cùng bi hùng quá khứ

             Ai nhớ ai quên giữa chong chóng cuộc đời?


             Nơi lửa gươm rừng rực một thời

             Hồn cố quốc lắng tâm tư bão tố

             Bao lứa đôi về Hồ Tây tình tự

             Qua Cổng Thành lúng liếng mảnh trăng nghiêng

      

                                                                                     
                                                                                                                   

More...

Ngày Thơ Việt Nam lần thứ VIII Đại Lễ hội Thơ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội

By


ĐẠI LỄ HỘI THƠ 1.000 NĂM THĂNG LONG-HÀ NỘI

Ngày 28-2-2010 (Rằm tháng Giêng ) trong khuôn khổ Ngày Thơ Việt Nam lần thứ VIII Đại Lễ hội Thơ 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội đã khai mạc trọng thể với quy mô lớn tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám Hà Nội. Làng vnweblogs  đã có Nguyên Hùng và Phương Phương đoạt giải nhì và giải ba trong cuộc thi câu đối.

    
      Những người yêu Thơ tấp nập đến lễ hội

    

    
     Khung cảnh khu vực hồ trong Văn Miếu - Quốc Tử Giám

    
      Khách nước ngoài dự Hội thơ với chiếc nón và áo dài 
     Việt Nam duyên dáng.

    

    
      Biểu diễn ca nhạc tại sân chính.


    

     
       Nghệ sĩ Bạch Vân hát Ca Trù.

     
        Những nhà báo tác nghiệp

      
       Nhà thơ Hữu Thỉnh Chủ tịch Hội nhà văn cũng tranh thủ ghi hình.

      
       Tham gia Thi câu đối  hai anh em trong làng vnweblogs
        đã giành được giải cao: Nguyên Hùng đoạt giải nhì
        Phương Phương đoạt giải ba.
      
         Chụp chung tấm ảnh kỉ niệm tại Lễ hội. Từ trái qua phải:
        Thanh Cao nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo Nghệ sĩ nhân dân Quang Thọ.

       
        Nhà thơ Vương Trọng Phạm Minh Khôi  Nguyễn Quyết Thắng
       Phương Phương Thanh Cao Lê Khả Sỹ Hồ VănThiện.

       

More...

Hội Lim - Đến hẹn lại lên

By

         HỘi LIM -  ĐẾN HẸN LẠI LÊN

      Lễ hội vùng Lim ( ở huyện Tiên Du tỉnh BẮc Ninh ) là lễ hội nổi tiếng bậc nhất xứ Bắc với các hoạt động truyền thống. Đặc biệt xuân Canh Dần năm nay chào mừng sự kiện dân ca Quan họ Bắc Ninh được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể lễ hội  được tổ chức trọng thể trong khoảng thời gian và không gian truyền thống vào 2 ngày 25 và 26-2 - 2010 (tức ngày 12 và 13 tháng Giêng âm lịch) tại 2 xã Nội Duệ Liên Bão và thị trấn Lim mà trung tâm lễ hội là khu vực đồi Lim. Sau đây là một vài hình ảnh mà TC ghi được trong ngày mở đầu của Lễ hội.

      
     

     
       Liền Chị têm Trầu Cánh phượng.

     

     
       Trầu Cánh phượng.

      
       Trang điểm chuẩn bị vào Lễ hội.

      
       Trao nhau câu hát.

      

      

      
       Mời khách chén trà Quan Họ.
     
     
        Chị Hai xinh tang tình là...

    
      "Chị Hai nhí"

   
       Liền anh tuổi ngoại lục tuần.



      
         Ngồi tựa mạn thuyền.

      
        Ông Nguyễn Văn Long ( thôn Duệ Đông Thị trấn Lim)
       người có bộ tóc dài để từ năm 1994  đến dự Lễ hội.

      
        T.C chụp chung tấm ảnh kỉ niệm với ông Long.

      
        PV Báo Người cao tuổi phỏng vấn ông Nguyễn Văn long.
             

More...

Đầu xuân tới thăm tác giả tiểu thuyết "DÒNG XOÁY"

By


    

ĐẦU XUÂN TỚI THĂM TÁC GIẢ TIỂU THUYẾT "DÒNG XOÁY"

    Mùng bảy Tết Canh Dần 2010 từ Hà Nội chúng tôi xuôi về Thành Nam thăm nhà văn Trần Thị Nhật Tân tác giả tiểu thuyết " DÒNG XOÁY" từng gây chấn động văn đàn cuối những năm tám mươi của thế kỉ trước và gần đây khi tái bản lại một lần nữa lại làm lay động bao trái tim người đọc.

     Sau hai giờ " vi vu" trên đường ( so với kế hoạch có trễ một chút) anh em đã có mặt trong căn nhà cũ hai tầng của nhà văn ở phường Lộc Hạ với cuộc gặp gỡ đầu xuân đầy chân tình và ấm cúng.
 
      
      Nhà văn Trần Thị Nhật Tân khai bút đầu Xuân Canh Dần 2010.

       
                Nhà văn Trần thị Nhật Tân và Hà Vân
    Nhà thơ Văn Nhuận (Hội VHNT Hà Nam) Thanh Cao Hồng Phúc (hàng sau)

        
                Quả của vườn nhà lộc đầu xuân

       
     Nhà văn Trần Thị Nhật Tân tặng sách nghệ sĩ nhiếp ảnh Hồng Phúc.

        
      Tâm sự chuyện Văn giữa Thanh Cao và nhà thơ Văn Nhuận.

         
                    Cùng vui chén rượu mừng xuân.

         
             Trước ngôi nhà của mình nhà văn Trần Thị Nhật Tân 
           vẫn như còn " phảng phất" một thời thiếu nữ.

          
             Mai này sang phương trời Âu Hà Vân chắc nhớ mãi
           phút giây lưu luyến này
!
       

More...