Người trong ảnh

By


    
   Sau hơn hai năm đọc "CHUYỆN Ở SÂN SAU" của Trường Lam một bút ký gây xôn xao dư luận viết về gia tộc của Bác Hồ năm nay - 2010  thật thú vị khi tôi đã có vài dịp gặp và chuyện trò với người được nhắc tới trong bút ký ấy đó là Thượng tọa Thích Chân Quang - tên khai sinh là Vương Chí Việt (bên trái).

More...

PHI CÔNG MỸ Ở VIỆT NAM ( 7 )

By

 

( Tiếp theo)
BÍ MẬT VỤ TẬP KÍCH CỨU TÙ BINH

    PHI CÔNG MỸ TẠI SƠN TÂY 

- T
ừ "Khách sạn Vỡ Tim"
... đến Trại giam "Hy Vọng"
-
Tù binh Phi công Mỹ đã báo cho "Lầu Năm Góc"
   nơi họ bị giam giữ ở Sơn Tây bằng cách nào? 

  
Cuối tháng 11 năm 1970 Quân đội Mỹ đã sử dụng một số lượng lớn máy bay trực thăng máy bay vận tải cùng hàng trăm máy bay phản lực chiến đấu khác hộ tống phối hợp để đưa một đơn vị đặc nhiệm đến Sơn Tây nhằm giải thoát cho gần 100 tù binh Phi công Mỹ.
  
Đây là một kế hoạch tuyệt mật được người Mỹ chuẩn bị hết sức công phu tốn kém với sự tham gia của rất nhiều quan chức chóp bu trong bộ máy chiến tranh khổng lồ của một cường quốc quân sự hồi đó: Bộ trưởng B Quốc phòng Melvin Laird Bộ trưởng Ngoại giao W.P. Rogers Cố vấn an ninh quốc gia Henry Kissinger Giám đốc Cục tình báo Trung ương R.M. Helms ... Và đích thân Tổng thống Mỹ đương nhiệm Richard Nixon đã phê chuẩn cho kế hoạch này.

Từ "Khách sạn Vỡ Tim"... đến Trại giam "Hy Vọng"

      Thị xã Sơn Tây cách Hà Nội khoảng 40 km về phía tây. Người Mỹ sẽ không bao giờ để ý và quan tâm đến cái thị xã hiền lành xinh đẹp này nếu như nơi đây không có một trại giam nhỏ. Đó là trại giam Xã Tắc nằm trên địa phận của xóm Cầu Cộng thôn Vân Gia xã Trung Hưng thị xã Sơn Tây tỉnh Hà Tây (cũ) giờ thì tất cả khu đó đã cùng Hà Tây sáp nhập về Hà Nội rồi.
  
Khởi đầu nơi đây vốn là trại cải tạo và giam giữ thường phạm của Ty Công an Sơn Tây. Trại được xây dựng hết sức đơn giản chỉ có mấy dãy nhà cấp bốn lợp ngói đỏ xung quanh có bức tường rào cao khảng ba mét bao bọc. Nằm giữa cánh đồng lúa có đê điều bao quanh mùa mưa Xã Tắc luôn bị đe dọa vì nước dâng lên sẽ ngập lụt. Hồi đó nơi đây còn rất vắng vẻ hầu như chưa có  hộ dân nào ở. Từ thị xã Sơn Tây muốn vào Xã Tắc phải qua một chiếc cầu nhỏ bắc qua sông Tích. Đó là con đường độc đạo khá hiểm yếu xét về mặt bố phòng quân sự.
   Năm 1965 sau khi tái lập tỉnh mới trại giam Xã Tắc do Công an Hà Tây quản lý. Một thời gian sau trại này được giao cho Quân đội mượn và nó được sử dụng làm một nhiệm vụ rất đặc biệt: Trông coi vài chục tù binh Phi công Mỹ. Công việc này được giữ gìn hết sức bí mật. Đến mức người dân xung quanh Xã Tắc và ở thị xã Sơn Tây hồi đó chỉ được thông báo đây là một cái "kho chứa hàng quân sự" quan trọng được bộ đội ta canh giữ đêm ngày hết sức cẩn mật. Người ta thường đồn đại và đoán già đoán non rằng: trong Xã Tắc đang cất giữ một số "hàng ngoại" rất có giá trị. Nguyên tắc bảo vệ nơi đây được thực hiện nghiêm ngặt theo kiểu "nội bất xuất ngoại bất nhập". Đêm đêm thỉnh thoảng người ta vẫn thấy những chiếc xe ô tô quân sự được che đậy kín mít lặng lẽ ra vào "kho" để giao và nhận "hàng".
  
Bây giờ thì cái "kho hàng quân sự" ấy và cả số "hàng ngoại" kia cũng không còn gì phải bí mật nữa. Tù binh phi công đã được Chính phủ Việt Nam trao trả hết cho phía Mỹ sau Hiệp định Paris năm 1973.
  
Những Phi công Mỹ đã bị bắn rơi và bị ta bắt như thế nào? Họ được giam giữ ở những đâu?... Hẳn những cựu tù binh Mỹ chưa ai quên. Những buồn vui kỷ niệm không phai mờ khiến nhiều người trong số họ khi về nước đã kể chuyện đã viết hồi ký đã làm phim... Và những tù binh Phi công Mỹ đã từng ở trại giam Sơn Tây năm 1970 cũng thế.
  
Người viết bài này không những có điều kiện gặp gỡ trực tiếp với các nhân chứng của Vụ tập kích Sơn Tây ở Việt Nam đang còn sống; mà còn may mắn tiếp xúc với khá nhiều tài liệu những hồ sơ lưu trữ đã một thời được coi là tuyệt mật từ phía Mỹ... để phục vụ bạn đọc.
  
Tù binh Phi công Mỹ đã báo cho "Lầu Năm Góc"
   nơi họ bị giam giữ ở Sơn Tây bằng cách nào?

Cuối tháng 12 năm 1968 Thiếu tá không quân Elmo Baker cùng mười một tù binh phi công khác được di chuyển từ khách sạn "Vỡ Tim" đến một trại giam mới trong một đêm tối trời. Cùng một chuyến xe ấy có cả Đại uý Carrigan. Thật khó đoán được họ đã đi xa bao nhiêu cây số vì con đường toàn ổ voi ổ gà xấu khủng khiếp. Ngược chiều với xe chở tù binh thỉnh thoảng họ lại gặp một vài chiếc xe quân sự kéo pháo cao xạ và có cả xe kéo tên lửa SAM đi về hướng thành phố...
  
Khi đã nằm im trong căn buồng giam vắng lặng Baker đã nghĩ ra cách đánh "moóc" gõ vào tường để liên lạc với những tù binh ở phòng bên cạnh. Baker thông báo với những người bạn xung quanh rằng anh ta bị bắn rơi trong chuyến bay thứ 61 khi cùng phi đội đi ném bom Bắc Giang - một thị xã nhỏ cách Hà Nội khoảng 50 km. Baker tự giới thiệu mình năm nay 35 tuổi quê ở thành phố Kenneth đã đỗ tiến sĩ về điện và có bằng cử nhân văn chương. Anh ta đã may mắn thoát ra khỏi chiếc "Thần Sấm" F-105 khi nó bốc cháy và sắp nổ tung. Nhưng khi chiếc dù vừa giúp Baker tiếp đất thì bị bắt ngay... Anh ta bị thương rất nặng và đã được các bác sĩ Việt Nam cứu chữa ở bệnh viện Bạch Mai suốt 30 ngày liền. Baker cũng không quên thông báo rằng trước khi được đưa đến đây anh ta đã có thâm niên hai mươi bảy tháng nằm "bóc lịch" trong trại tù binh của quân đội nhân dân Việt Nam ở Hà Nội...
  
Ở một buồng giam bên cạnh một người bạn tù cũng đã dùng cách gõ "moóc" vào tường tự giới thiệu với Baker:
  
- Tôi là Thiếu tá không quân Irby David Terrell bị bắn rơi từ tháng 1 năm 1968.
  
Baker mừng quá hỏi luôn:
  
- Đây là đâu?
  
Phòng bên kia cho biết:
  
- Đây là trại giam Hy Vọng thị xã Sơn Tây.
  
- Tại sao lại gọi là trại "Hy Vọng?"
  
- Đó là cái tên do những tù binh ở đây tự đặt trong ngày Lễ Tạ Ơn Chúa năm 1968.
  
Lại hỏi tiếp:
 
- Có đông tù binh ở đây không?
  
Trả lời:
  
- Khoảng vài chục người...
  
Bằng cách gõ vào tường như thế dù có hơi chậm một chút nhưng Baker đã trao đổi được khá nhiều thông tin cần thiết với những người bạn tù xung quanh. Cuộc trò chuyện của họ chỉ chấm dứt khi có cán bộ của trại tù binh đi kiểm tra bên ngoài và thay gác...
  
Buổi sáng hôm sau Baker rất ngạc nhiên khi anh ta được tự do ra sân làm vệ sinh tắm giặt. Thì ra các tù binh ở đây vẫn có điều kiện tiếp xúc với nhau. Ban ngày họ thường được giao cho làm những việc lặt vặt ngoài sân trại như đập gạch đào rãnh chuyển vật liệu xây dựng... Chiều tối họ được tự do đánh bóng chuyền bóng rổ và chơi thể thao trong sân trại. Không khí tại đây có vẻ thoáng đãng dễ thở hơn khách sạn "Vỡ Tim" ở Hà Nội nhiều. Chí ít là những tù binh mới đến đều có cảm nhận như thế!
  
Số tù binh Phi công Mỹ được đưa về Sơn Tây ngày càng nhiều hơn. Trại "Hy Vọng" đang được nới rộng ra bằng cách xây thêm một số bức tường chắn bao quanh khu nhà bếp nhà ăn và bể nước để tắm giặt. Và các tù binh cũng được tham gia xây dựng góp phần tạo nên những ngôi nhà cho chính mình.
  
Các tù binh Phi công Mỹ đã thông báo cho nhau biết: Dù bị bắt làm tù binh thì tới niên hạn họ vẫn được xét tăng lương và thăng quân hàm bình thường như đang "tại ngũ". Các tù binh thường bí mật tập hợp nhau lại thành từng nhóm giúp đỡ động viên nhau trong sinh hoạt. Ai có quân hàm cao nhất hoặc thâm niên lâu hơn thì được bầu là "Sĩ quan trưởng nhóm" để chỉ huy chung. (Ví dụ: Trước khi cuộc tập kích Sơn Tây diễn ra Trung tá Hải quân Clower đã được các tù binh bầu là "Sĩ quan trưởng nhóm" của trại tù binh này. Và mặc dù đã bị phía Việt Nam bắt và ngồi tù nhưng ông ta vẫn được xét và phong Đại tá).
  
Baker cùng một số người khác được giao cho mỗi người một ống sắt nhỏ để đập gạch vỡ phục vụ cho việc xây dựng. Từ những âm thanh bắt buộc buồn tẻ và đơn điệu Baker đã nảy ra sáng kiến lợi dụng việc đập gạch để biến nó thành tiếng moóc thông báo tin tức và trò chuyện với những tù binh khác. Ví dụ anh ta thông báo việc một nhóm tù binh 20 người mới được chuyển từ khách sạn "Vỡ Tim" Hà Nội đến đêm qua. Baker cũng không quên báo cho các tù binh khác biết rằng cách thông tin với nhau bằng tín hiệu "moóc" rất hay vì những người lính Bắc Việt bảo vệ trại giam hoàn toàn không để ý đến hoặc không biết !
  
Công việc lao động của các tù binh Phi công Mỹ ở trại "Hy Vọng" tuy không có gì vất vả nhưng cũng chẳng lấy gì làm thú vị nhất là đối với những "người hùng" chỉ quen "lướt mây cưỡi gió" trên trời cao.
  
Lại một mùa đông nữa đến với trại "Hy Vọng" ở Sơn Tây.
  
Trời cứ mưa rét dai dẳng khiến cho không khí ẩm ướt rất khó chịu. Nước sông Tích vẫn còn dâng cao sát tường rào của trại cơ hồ như sắp lụt đến nơi. Với các tù binh phi công mùa đông nơi đây thật khắc nghiệt và gay gắt.
  
Chiến tranh đã tàn phá đất nước Việt Nam mấy chục năm nên đời sống của bộ đội và nhân dân Việt Nam ngày đó cũng còn bao khó khăn cơ cực. Mặc chưa đủ ấm ăn chưa đủ no bữa cơm thường nhật của các gia đình đều phải dùng thứ độn nhiều hơn gạo; nhưng vẫn cùng nhau thắt lưng buộc bụng và gồng mình dồn sức cho chiến trường đánh giặc...
  
 Ông Lê Việt Tiến nguyên Phó trưởng Ty Công an Hà Tây nhớ lại: Mỗi tù binh Phi công Mỹ ở trại "Hy Vọng" của Sơn Tây hồi đó vẫn được hưởng mức ăn tới 7 đồng mỗi ngày. (Đây thực sự là một cố gắng rất lớn của Chính phủ ta nếu bạn đọc biết rằng một cán bộ của Ty Công an Hà Tây hồi đó ăn bếp tập thể chỉ với chế độ... 0 5 đồng một ngày; còn ông Trưởng Ty Công an tỉnh thì lĩnh lương tháng cộng tất tật các khoản cũng chỉ vẻn vẹn có... 115 đồng!). Tuy nhiên dù đã cố gắng rất nhiều trong việc thực hiện chính sách nhân đạo đối với tù binh Mỹ thì nơi đây vẫn là thiếu thốn đủ thứ tiện nghi sinh hoạt đối với họ.
  
Ước mơ lớn nhất của các tù binh ở trại "Hy Vọng" là sớm được trở về đoàn tụ với gia đình. Họ tự hiểu rằng việc "vượt ngục trốn trại" ở đây chỉ là chuyện điên rồ và vô vọng!
  
Một lần đại uý Richard Brenneman lợi dụng việc chôn cột bóng chuyền đã trèo lên cao để nhìn ra ngoài qua bức tường rào. Anh ta phát hiện ra vị trí của trại "Hy Vọng" nằm biệt lập giữa cánh đồng rất xa khu vực dân cư.
  
Một số tù binh khác cũng nhân lúc bộ đội ta canh gác sơ hở đã trèo lên tường rào nhìn vội ra ngoài... Rồi họ đã cùng chắp nối lại những gì quan sát được. Họ đã hình dung ra nơi họ bị giam nằm giữa cánh đồng lúa có đê điều bao quanh và rất gần một dòng sông; cách vài trăm mét về phía nam còn có cả một trạm biến thế điện xa hơn nữa là một khu nhà có vẻ như bệnh xá trường học hay một trại an dưỡng gì đó. Và ngoài tường rào phía tây của trại là một trạm bơm nhỏ...
  
Một tù binh bỗng nêu lên ý nghĩ: Giá như có một lực lượng "giải thoát"? Đúng chỉ có cách giải thoát là biện pháp tốt nhất! Nhưng làm cách nào để có được lực lượng đến giải thoát nơi đây?
  
Các tù binh Mỹ đều biết rằng hầu như tuần nào cũng có máy bay trinh sát bay qua vùng trời này để chụp ảnh phát hiện các mục tiêu cần đánh phá trên miền Bắc Việt Nam. Vậy thì phải tìm cách báo hiệu cho các chuyên viên nghiên cứu ảnh biết nơi đây là trại giam tù binh Mỹ... Bởi vì nếu nhìn từ trên không xuống với những dãy nhà nhỏ có tường bao quanh Trại giam "Hy Vọng" cũng chỉ giống như một trường học một nhà kho hay một nông trại dùng để nhốt gà vịt bình thường khác.
  
Hy vọng "có thể được giải thoát" đã loé lên trong đầu mỗi tù binh và họ đã bàn nhau tìm mọi cách để báo cho các máy bay trinh sát của quân đội Mỹ chụp ảnh được tín hiệu cấp cứu và lời khẩn cầu của họ.
  
Lợi dụng những khi lao động đào giếng đào rãnh và chuyển đất đá các tù binh Phi công Mỹ đã cố tình đổ đất mới tạo nên những hình ảnh khác thường.
   Thậm chí khi phơi quần áo sau lúc tắm giặt họ cũng nghĩ cách làm sao để tạo thành các chữ viết tắt như SOS (cấp cứu) K (hãy đến cứu chúng tôi) hay SAR (tìm và giải thoát) để các chuyên gia nghiên cứu ảnh chụp từ máy bay dễ nhận thấy nhất...
  
Và tất cả những sự cố gắng nỗ lực đó đã không phải không có tác dụng!
                                
                                ( Còn nữa )

                ĐẶNG VƯƠNG HƯNG

More...

Phi công Mỹ ở Việt Nam ( 6 )

By

Người nữ tù binh duy nhất tại Hỏa Lò

Đó là một chi tiết thú vị dường như còn rất ít người biết.
Khoảng giữa năm 1971 trại Hỏa Lò được lệnh tiếp nhận 2 tù binh người phương Tây (một nam và một nữ) bị bắt và đưa từ chiến trường miền Nam ra Bắc.
Người nữ tù binh có tên là Monica nguyên là sĩ quan quân y trong quân đội Mỹ gốc Đức. Cô ta có khuôn mặt trái xoan tóc vàng mắt xanh da rất trắng dáng người mảnh mai xinh đẹp và thông minh. Monica biết cả tiếng Anh và tiếng Đức. Vì là nữ tù binh duy nhất nên ban chỉ huy trại đã bố trí cho cô ta một phòng riêng rộng khoảng 10 mét vuông có kê một chiếc giường hộp (loại vẫn dùng cho sĩ quan cấp tá của quân đội ta) với đủ chăn màn một phích nước ấm chén và một chiếc bàn nhỏ thậm chí còn có cả một... lọ hoa!
 
Lúc đầu Monica không chịu nhận chiếc phòng đó cô ta cứ năng nặc đòi được ở chung phòng với người nam tù binh đã đi cùng chuyến từ miền Nam ra Bắc. Hình như giữa họ đã nảy sinh tình cảm nam nữ quá mức bình thường. Tất nhiên là Ban chỉ huy trại không chấp nhận. Không thể biến phòng giam thành... buồng hạnh phúc cho họ được!
 
Nhưng anh em quản giáo giải thích thế nào Monica cũng không nghe lại còn tỏ thái độ bướng bỉnh khóc lóc và không chịu ăn uống gì. Lý do Monica đưa ra là căn phòng ấy... xấu và trống trải quá. Vả lại đêm ngủ một mình cô rất sợ... ma.
  
Thấy vậy trại trưởng Trần Trọng Duyệt cho gọi Monica lên phòng mình. Ông hỏi thăm sức khoẻ hoàn cảnh gia đình của người nữ tù binh và động viên cô chấp hành kỷ luật trại cải tạo tốt để khi có điều kiện sẽ sớm được trở về đoàn tụ với gia đình. Rồi với thái độ vừa cương quyết vừa mềm mỏng ông nói:
- Tôi là trại trưởng nhưng phòng làm việc của tôi cũng không lớn hơn căn phòng mà chúng tôi đã bố trí cho cô. Thậm chí còn không có lọ hoa... Vậy cô còn muốn gì nữa đây?
 
Tới lúc đó Monica mới "ngoan ngoãn" nhận phòng.
 
Những ngày sống ở trại Hỏa Lò người nữ tù binh duy nhất trại này đã được anh em quản giáo quan tâm chăm sóc tới mức... "hơi bị nuông chiều". Họ sắm cho cô ta đủ cả gương lược và những đồ dùng cá nhân thiết yếu của phụ nữ. Một chiến sĩ trẻ đã được giao nhiệm vụ đi mua sắm "phụ tùng" cho Monica. Vì không quen với loại hàng hóa "phức tạp và tế nhị" này lại đang là thời bao cấp khó khăn nên anh đã phải vất vả đi lùng khắp Hà Nội. Thêm nữa còn phải giữ bí mật vì không thể nói mình mua đồ lót cho nữ tù binh nên nhiều phen ngượng chín mặt vì bị hiểu nhầm... 
  Thậm chí có lần Monica còn được Trại trưởng trực tiếp đưa đi làm đầu tại một tiệm uốn tóc bên bờ hồ Hoàn Kiếm rồi đi mua quần áo ở Hàng Đào... Sau chuyến đi nhiệt tình vì "người đẹp" ấy ông Duyệt và Ban chỉ huy trại đã bị cấp trên nhắc nhở và phê bình vì đã "thiếu tinh thần cảnh giác".  
  Mấy tháng sau Trại trưởng Trần Trọng Duyệt đã nhận được một lá thư do Monica viết cả 2 mặt giấy với kiểu chữ nắn nót một bên bằng tiếng Đức và một bên bằng tiếng Anh có cùng nội dung tạm dịch như sau:
  
Kính gửi ông chỉ huy
 
Từ tháng 12 năm 1971 tôi được phép nuôi một con mèo. Tôi rất thích động vật nhất là loài mèo vì vậy tôi rất vui khi được nhà cầm quyền cho phép. Tôi cho rằng: sự đối xử như vậy dù là hành động nhỏ nhưng rất văn minh biểu lộ chính sách khoan hồng nhân đạo của Nhà nước Việt Nam.
 
Còn đối với những đề nghị trước đây tôi tin rằng hoặc đã không tới tay cơ quan ông hoặc chưa được ông quan tâm thỏa đáng. Nhưng tôi hết lòng hy vọng lần này thì ông sẽ không lãng quên việc tôi xin phép nuôi con mèo này.
  
Một khi tôi được phóng thích tôi xin phép được mang theo con mèo về nước. Là một tù binh tất nhiên giờ đây tôi chỉ có hai bàn tay trắng nhưng tôi xin hứa sẽ bồi thường tất cả chi phí tăng thêm vì tôi được phép nuôi con mèo này. Xin nhường ông sự lựa chọn bằng phương thức trao đổi thích hợp nhất do ông tự sắp xếp.
 
Hy vọng thiết tha rằng ông không bỏ qua lời đề nghị của tôi.
 
Xin gửi tới ông chào trân trọng.
 
Ký tên: Monica.
 
Sau đó việc nuôi mèo trong phòng giam của Monica đã được Ban chỉ huy trại tù binh chấp nhận. Cô ta vui lắm luôn tỏ ra dịu dàng và tử tế với mọi người bởi được chăm sóc con vật mà mình yêu thích. Chỉ khổ cho Trưởng trại tù binh Trần Trọng Duyệt vốn đẹp trai lịch lãm đã bị anh em trêu chọc vì lời đề nghị "đa nghĩa" và rất dễ bị hiểu nhầm của cô nữ tù binh xinh đẹp: Xin nhường ông sự lựa chọn bằng phương thức trao đổi thích hợp nhất do ông tự sắp xếp.
  
Rất tiếc là Đại tá Trần Trọng Duyệt không có tấm ảnh nào chụp kỷ niệm với người nữ tù binh duy nhất ở trại Hỏa Lò kể trên. Ông cũng không nhớ là khi được trao trả về nước cô ấy có mang theo con mèo như đã đề nghị trong thư hay không?
 
Nhưng sau hơn 30 năm Đại tá Trần Trọng Duyệt vẫn giữ được bản gốc bức thư "Xin nuôi một con mèo" của Monica. Nó được viết bằng thứ chữ nhỏ li ti đẹp và đều tăm tắp như  kiểu chữ vi tính. Ngay bên dưới là bản tạm dịch viết tay của một cán bộ quản giáo. 
  Sau khi đã nghỉ hưu một lần về Hà Nội thăm lại Khu di tích nhà tù Hỏa Lò Cựu trại tưởng Trần Trọng Duyệt đã tặng lại bức thư độc đáo nêu trên Ban Quản lý khu di tích. Vì thế bức thư của Monica đang được lưu giữ tại Phòng trưng bày hiện vật tù binh Phi công Mỹ. Người viết bài này cho rằng đó là một trong những bức thư hay nhất thế giới về tù binh trong chiến tranh.
 
Tin tức Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết đã được trại công khai phổ biến cho tất cả các tù binh Mỹ.
 
Một không khí chờ đợi và háo hức lạ thường bởi tất cả bọn họ đều mong đợi đến ngày được trao trả về nước. Những ngày đó tù binh được phép tự do ra sân chơi thể thao và thậm chí họ còn tham gia làm bếp và tự nấu ăn theo sở thích.

                                             ( Còn nữa)

                                              ĐẶNG VƯƠNG HƯNG

More...

Phi công Mỹ ở Việt Nam ( kỳ 5)

By

 Tù binh Mỹ tại Hỏa Lò có tiêu chuẩn ăn cao hơn cán bộ Việt Nam.
 
Đại tá Trần Trọng Duyệt cho biết:
  
- Hồi đó tù binh Phi công Mỹ đã được phía ta chăm sóc với một chế độ ăn uống rất đặc biệt: Buổi sáng họ thường được ăn bánh mỳ với sữa hoặc đường (những thứ hàng xa xỉ mà thời ấy những người Việt Nam bình thường chỉ những khi ốm đau mới được biếu và bồi dưỡng). Bữa trưa và chiều suất ăn của họ là bánh mỳ kẹp trứng rán hoặc thịt và một bát súp thịt hầm với khoai tây hoặc rau các loại. Những người nghiện thuốc lá mỗi ngày còn được phát 3 điếu Tam Đảo bao bạc (thứ thuốc lá không có đầu lọc nhưng rất quý hiếm do miền Bắc sản xuất hồi đó).
  Những ngày lễ ngày Tết (của cả Việt Nam và Mỹ) tù binh còn được cho ăn tươi đặc biệt hơn. Ngoài việc gói bánh chưng cuốn nem rán bộ phận hậu cần của trại thường mang giấy giới thiệu đi về tận Hà Bắc hoặc Sơn Tây để mua gà tây về quay chế biến món cơm rang thập cẩm (cơm có cả thịt trứng và rau) uống với bia Trúc Bạch - thứ đồ uống mà tù binh Mỹ rất thích - ăn xong thường có hoa quả và bánh kẹo.
  
Để bạn đọc dễ hình dung và so sánh chúng tôi xin được nêu ví dụ cụ thể về chế độ và suất ăn như sau: hồi đó bộ đội ta thường có 3 chế độ ăn cơ bản:
  
- Đại táo: áp dụng cho tất cả cán bộ chiến sĩ và những người có quân hàm đến Trung uý được hưởng tiêu chuẩn ăn 0 68 đồng/ngày;
   
- Trung táo: áp dụng cho các sĩ quan có cấp hàm từ Thượng uý đến Trung tá được hưởng tiêu chuẩn ăn 0 9 đồng/ngày;
  
- Tiểu táo: áp dụng cho các sĩ quan cao cấp có quân hàm Thượng tá và Đại tá được hưởng tiêu chuẩn ăn 1 2 đồng/ngày.
   Riêng tù binh Phi công Mỹ được hưởng mức ăn "đặc táo" tới 1 6 đồng/ngày. Với những người gầy yếu hoặc ốm đau sẽ được Ban chỉ huy trại quyết định cho ăn chế độ bồi dưỡng đặc biệt: 3 2 đồng/ngày. Thời gian sau mức ăn còn được nâng lên tới 7 đồng/ngày. (Đồng tiền ở miền Bắc ngày đó rất có giá trị: Lương tháng của đồng chí Trưởng ty Công an an tỉnh là 115 đồng! Một bát phở ngon có giá 3 hào một que kem ở bờ hồ Hoàn Kiếm trung tâm thủ đô Hà Nội chỉ có 5 xu...).
  
Vì được hưởng tiêu chuẩn cao nên tù binh Mỹ thường ăn không hết suất cơm và thức ăn thừa nhiều. Ban chỉ huy trại quyết định sử dụng số thức ăn thừa đó để... nuôi lợn. Thời gian cao điểm bộ phận hậu cần của trại tù binh Hỏa Lò nuôi tới 40 con lợn béo. Khi lợn to được xuất chuồng số thịt tăng gia và tiền bán lợn đó lại được sử dụng để bổ sung cho bữa ăn của tù binh...
   
Tóm lại đó là một sự cố gắng rất lớn về chính sách nhân đạo của Đảng và Nhà nước Việt Nam đối với tù binh Mỹ. Bởi trong thời kỳ chiến tranh đời sống nhân dân ta còn thiếu thốn trăm bề. Hàng hóa hầu hết đều phải phân phối được mua bằng tem phiếu ưu tiên.
  
Tù binh Mỹ được ăn uống đầy đủ tới mức khiến nhiều cán bộ chiến sĩ ta phải thắc mắc: Tại sao ở nhiều nơi bộ đội và nhân dân ta còn phải ăn độn thêm khoai sắn mới đủ no mà lại dành khẩu phần ăn tốn kén như vậy cho những kẻ đã từng gây bao tội ác với đồng bao ta? Cấp trên giải thích: Tù binh Mỹ là "vốn quý" và "tài sản" để sau này chúng ta có thể đấu tranh trên mặt trận ngoại giao với địch. Cán bộ chiến sĩ của trại phải xác định rõ: chăm sóc bảo đảm tốt sức khỏe cho tù binh cũng là một nhiệm vụ đặc biệt!


Những ngày Lễ - Tết tù binh phi công Mỹ được tự chế biến
nấu các món ăn ngon theo sở thích.





Lễ Giáng sinh tù binh phi công Mỹ trang trí cây thông Noel.


Tù binh phi công Mỹ chơi thể thao.

Tù binh phi công Mỹ được chăm sóc kiểm tra sức khỏe định kỳ.


 Tù binh phi công Mỹ nhận quà của người thân.

Ở tù nhưng vẫn được vui chơi và giải trí và tham gia đóng phim
  
Cựu trại trưởng tù binh Hỏa Lò Trần Trọng Duyệt đã khẳng định: Có lẽ trên thế giới này không có nước nào đối xử với tù binh Mỹ tốt như ở Việt Nam. Đó là nhờ truyền thống khoan hồng và nhân đạo đã có hàng nghìn năm của dân tộc ta. Các tù binh chẳng những được ăn tốt mà còn được chăm sóc sức khỏe (cả vật chất và tinh thần) rất chu đáo trong điều kiện thời chiến cho phép.
  
Ngoài việc được tận tình cứu chữa vết thương do nhảy dù sau khi máy bay bốc cháy các tù binh đã được những bác sĩ giỏi nhất ở các bệnh viện 108 203 354 của quân đội đến khám và chữa bệnh theo định kỳ. Cho nên sau cú sốc thần kinh ban đầu lúc họ bị bắt khi đã vào trại Hỏa Lò hầu hết các tù binh Mỹ đều ổn định tinh thần và sức khỏe rất nhanh. Nhiều người đã có ý thức tập luyện để thích nghi với điều kiện sinh hoạt mới giữ gìn sức khỏe để đợi ngày được trao trả về nước.
  
Ông Duyệt cho biết: ở Hỏa Lò hồi đó các tù binh Mỹ thường xuyên được tổ chức vui chơi giải trí. Hằng ngày họ được ra sân phơi nắng chơi bóng chuyền bóng rổ chọc bi-a đọc sách báo nghe tin tức - kể cả tin tức của Mỹ và phương Tây - qua đài phát thanh mà trại tiếp âm hoặc chọn những tù binh có giọng đọc tốt để đọc cho tất cả cùng nghe.
  
Để các tù binh có phương tiện chơi thể thao thường xuyên trại phải nhờ đến sự giúp đỡ của đồng chí Tạ Đình Đề người phụ trách xưởng sản xuất dụng cụ của Tổng cục thể dục thể thao. Thậm chí để giúp một số tù binh có bệnh về mắt có thể đọc được sách báo Ban chỉ huy trại đã phải thửa khá nhiều cặp kính thuốc của chị Thuý Hà ở cửa hàng số 48 Hàng Bài. (Hiện bà Hà đang trú tại 51 Trần Nhân Tông Hà Nội).
 
Đặc biệt trong các ngày Lễ ngày Tết của Mỹ như ngày Độc lập (4 tháng 7) ngày Lễ Tạ ơn Noel Tết Dương lịch... tôn trọng tín ngưỡng của tù binh trại còn cho mời cả mục sư Bùi Hoàng Thử đến làm lễ theo nghi thức tôn giáo cho số người theo đạo.
  
Thỉnh thoảng trại cho mời các nghệ sĩ của đoàn văn công Tổng cục Chính trị đến biểu diễn cho bộ đội và cho cả tù binh Mỹ cùng thưởng thức. Ông Duyệt còn nhớ một lần nghệ sĩ Tường Vi đến hát bài "Cô gái vót chông" và "Tiếng đàn ta lư". Tới đoạn lên cao như tiếng chim hót "Pơ-rô-tốc... pơ-rô-tốc..." Mặc dù không hiểu nghĩa cả bài hát nhưng tù binh Mỹ khoái quá vỗ tay rào rào yêu cầu hát đi hát lại. Đêm ấy khi buổi văn nghệ đã tan từ lâu nhưng ở nhiều phòng giam tù binh không chịu ngủ. Họ bàn tán đủ thứ chuyện về các ca sĩ Việt Nam rồi còn bắt chước giọng Tường Vi hát "Pơ-rô-tốc... pơ-rô-tốc..." suốt đêm.
 
Để thay đổi không khí cho các tù binh đã phải ở trong trại lâu ngày được sự phối hợp giúp đỡ của Công an Hà Nội và An ninh Quân đội Ban chỉ huy trại còn nhiều lần tổ chức cho các tù binh đi tham quan một số di tích lịch sử văn hóa và danh thắng của Thủ đô Hà Nội như: Hồ Hoàn Kiếm Công viên Lê Nin Quốc tử giám chùa Trấn Quốc chùa Một Cột Viện Bảo tàng Quân đội (nay là Bả tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam) bệnh viện Bạch Mai... Để bảo đảm an toàn cho những "vị khách đặc biệt" này ta đã cho phép các tù binh ăn mặc như khách du lịch: cũng com-lê ca-vát giày đen vv... và đi theo hướng dẫn viên.
 
Tuy nhiên cũng có lần nhân dân đã phát hiện ra tù binh Mỹ. Mọi người xì xào: Chuyên gia khách nước ngoài gì mà mắt cứ nhìn lơ láo thiếu tự nhiên đúng là "giặc lái Mỹ" rồi"! Vậy là tất cả cùng kéo lại chỉ chỏ bàn tán buộc ban tổ chức phải đưa tất cả lên xe huỷ bỏ chuyến tham quan dã ngoại theo dự kiến...
  Có một chuyện rất thú vị đó là việc tù binh Mỹ tại Hỏa Lò còn được ta trưng dụng để tham gia... đóng phim.
"Diễn viên" đầu tiên trong trại Hỏa Lò được nhận vinh dự này là Trung tá Robinson Riser một phi công khét tiếng "người hùng" của quân đội Mỹ trong chiến tranh Triều Tiên với 109 vụ và 3.000 giờ bay thành công (một tài liệu nói rằng ông ta đã bắn rơi tới 8 chiếc máy bay của đối phương).
 
Nhưng khi sang chiến trường Việt Nam mới tới phi vụ thứ 5 Riser đã bị bắn lực lượng phòng không ta bắn cháy anh ta cố lái máy bay ra biển nhảy dù và được cứu hộ thoát chết. Báo chí Mỹ hồi đó đã tuyên truyền rùm beng cả tháng trời về sự việc này. Nhưng lần thứ hai ngày 16 tháng 9 năm 1965 Riser lái chiếc "Thần sấm" F105D đã bị bắn hạ tại Thanh Hóa. Vào Hỏa Lò tính ngông nghênh của Riser đã bị khuất phục. Anh ta ngoan ngoãn nhận tội và đã khai rất nhiều... Vì họ tên đọc theo tiếng Anh thường dài và khó phát ân để dễ gọi tên bộ đội ta đã đặt cho Riser một cái tên Việt Nam gọi ngắn gọn là "Giai" cũng như tù binh phi công John McCain được gọi là "Cài".
 
Anh em phục vụ trong trại tù binh Hoả Lò ngày đó ai cũng nhớ "Giai" vì anh ta ăn rất khoẻ. "Giai" đã làm đơn xin lãnh đạo trại tù binh được ăn... 2 suất ăn bình thường và đã được chấp nhận.
 
Khi đoàn làm phim của Cộng hòa Dân chủ Đức sang Việt Nam quay bộ phim tài liệu "Phi công trong bộ quần áo ngủ" cần một người vào vai nhà báo quốc tế Giai đã vui vẻ nhận lời và anh ta nhập vai rất đạt. Với khổ người cao to mặc bộ đồ dạ tím chẳng ai nghĩ ông nhà báo phương Tây đó lại chính là viên Trung tá tù binh Phi công Mỹ tại Hỏa Lò đóng.
 
Được biết sau ngày được trao trả về nước Robinson Riser (tức Giai) còn tiếp tục phục vụ trong quân đội Mỹ và được phong hàm tướng.
 
Với bộ phim truyện "Cuộc chiến đấu vẫn còn tiếp diễn" của điện ảnh Việt Nam thì chuyện đóng phim của tù binh Mỹ còn thú vị hơn: Trong phim ta có sử dụng hai sĩ quan Thiếu tá tù binh đóng vai Đại tá và Trung tá cố vấn Mỹ của Chính quyền Sài Gòn (cũ). Phim có nhiều cảnh hai cố vấn Mỹ phải xuất hiện hoạt động với những không cảnh thời gian và địa điểm khác nhau... và hai tù binh vào vai cũng rất đạt như diễn viên chuyên nghiệp vậy.
 
Nhưng có một sơ suất mà ít ai ngờ... đó là sau khi xem phim cả hai diễn viên đặc biệt này đều gật gù rồi một người nói rất hài hước: "Chỉ có điều hơi tiếc là các ông đã cho tôi làm một Đại tá Mỹ... nghèo nhất thế giới! Bởi suốt từ đầu đến cuối phim. tôi chỉ có mỗi bộ quần áo mặc trên người không hề được thay đổi trang phục"!
                                                        ( Còn nữa )

                                                 ĐẶNG VƯƠNG HƯNG

More...

Phi công Mỹ ở Việt Nam ( kỳ 4 )

By

  TÙ BINH PHI CÔNG MỸ Ở HỎA LÒ...
NHỮNG
BÍ MẬT CẦN ĐƯỢC GIẢI Mà                  

   Trong kháng chiến chống Mỹ nhiều năm năm liên tục Nhà tù Hỏa Lò được coi là một trong những địa chỉ được bảo vệ nghiêm ngặt và bí mật nhất ở Hà Nội. Lý do thật đơn giản: Đó là nơi đã từng giam giữ hàng trăm Phi công Mỹ bị bắt trong chiến tranh Việt Nam.
Đến bây giờ thì điều bí mật trên không còn nữa. Nhưng không phải ai cũng hiểu được "sự thật đằng sau bức tường đá" một thời. Ví dụ: Cơ cấu tổ chức của trại Tù binh Phi công Mỹ Hòa Lò hối ấy như thế nào? Có phải tù binh Phi công Mỹ tại Hỏa Lò được ăn uống theo chế độ "đặc táo"? Họ được tạo điều kiện chơi thể thao thưởng thức văn nghệ tham qua danh lam thắng cảnh của Thủ đô ra sao? Những tù binh Mỹ nào đã được mời tham gia đóng phim cho Việt Nam? Và cả chuyện một nữ tù binh duy nhất với bức thư "xin nuôi mèo"?...Tất cả những câu trả lời cho những bí mật trên sẽ có trong bài viết dưới đây.

Đôi nét về "Khách sạn Hilton Hà Nội"
  
Nhà tù Hỏa Lò nằm ngay trung tâm Thành phố Hà Nội được xây dựng từ năm 1896. Người Pháp cho xây dựng nhà tù này nhằm giam giữ những người đấu tranh chống chế độ thực dân.
    Theo một tài liệu còn lưu trữ tại đây cho biết: Nhà tù Hỏa Lò vốn có tên là Đề lao Trung ương (Maison Centrale) nhưng do được xây trên đất của làng Phụ Khánh tổng Vĩnh Xương (cũ) một làng nghề chuyên sản xuất đồ gốm ngày đêm rực lửa lò nung vì thế làng còn có tên là Hỏa Lò và nhà tù ở đây cũng được gọi là nhà tù Hỏa Lò.
     Các nhà tù khác thường biệt lập với khu dân cư riêng Hỏa Lò nằm tại trung tâm Hà Nội thủ phủ của chính quyền thực dân khi đó. Bên cạnh nhà tù là tòa đại hình và sở mật thám tạo thành thế chân kiềng sẵn sàng đàn áp phong trào Cách mạng của nhân dân ta.
    Hỏa Lò là một trong những công trình kiên cố vào loại bậc nhất Đông Dương mà người Pháp đã xây dựng nên. Bao quanh nhà tù là bức tường bằng đá bê tông cốt thép cao 4 mét dày 0 5m được gia cố bởi hệ thống dây thép gai có dòng điện cao thế chạy qua bốn góc là những tháp canh có khả năng quan sát nhất cử nhất động toàn bộ trại giam. Riêng hệ thống cửa sắt và khóa phòng giam đã được mang từ Pháp sang.
     Nhiều thế hệ người Việt Nam đã bị giam cầm tại nhà tù Hỏa Lò trong đó có các nhà nho yêu nước như cụ Phan Bội Châu Lương Văn Can Dương Bá Trạc đến các đồng chí Nguyễn Văn Cừ Trường Chinh Lê Duẩn Nguyễn Văn Linh Đỗ Mười...
    Tổng diện tích của Hỏa Lò (cũ) rộng gần 13.000 mét vuông từ trên cao nhìn xuống khu đất này có hình thang với hai góc vuông (một cạnh của "hình thang" ấy là đường Thợ Nhuộm cạnh kia là đường Hai Bà Trưng; "đáy nhỏ" của "hình thang" ấy là đường Quán Sứ còn "đáy lớn" là phố Hỏa Lò). 
     Nếu đi ngoài các đường phố quan sát thì du khách chỉ thấy toàn bộ nhà tù Hỏa Lò được bao quanh bởi một bức tường đá bê tông cốt thép dày và cao. Ngày nay di tích nhà thù Hỏa Lò chỉ còn lại một góc nhỏ bằng 1/5 diện tích cũ nằm giáp với phố Hoả Lò phần lớn đã bị phá đi để nhường chỗ cho việc xây dựng một tòa tháp có tên tiếng Anh là Hanoi Towers.
      Cũng bởi sự kiên cố của nhà tù Hỏa Lò và vị trí của nó nằm ngay giữ lòng Thủ đô Hà Nội nên trong cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân của Mỹ ra miền Bắc Việt Nam Hỏa Lò được sử dụng để giam giữ hàng trăm tù binh Phi công Mỹ đã bị lực lượng phòng không ta bắn rơi và bắt sống. Thời đó các  Phi công Mỹ đã gọi Hỏa Lò bằng những cái tên hài hước là "Khách sạn Hilton Hà Nội" hoặc "Khách sạn Vỡ tim".
       Theo Đại tá Trần Trọng Duyệt (hiện trú tại Khu tập thể Đoàn 6 Hải quân Cầu Rào Hải Phòng) nguyên Trại trưởng cuối cùng của Trại tù binh Hỏa Lò - người được chứng kiến những ngày toàn bộ tù binh được ta trao trả cho phía Mỹ theo hiệp định Paris - nhớ lại thì trong thời gian chiến tranh tại Hà Nội tù binh Phi công Mỹ được giam giữ chủ yếu ở ba địa điểm chính: một là khu vực Fafim đường Nguyễn Trãi bây giờ (tiếng lóng của tù binh Phi công Mỹ gọi địa điểm này là "Sở Thú"); hai là số nhà 17 phố Lý Nam Đế (Phi công Mỹ gọi là "Đồn Điền"); và ba là Hỏa Lò (còn được tù binh Mỹ gọi hài hước là "Khách sạn Hilton" hay "Khách sạn Vỡ Tim") nơi thường xuyên có đông tù binh Phi công Mỹ "tá túc" nhất. Sau vụ đột kích bằng đường không của lực lượng đặc nhiệm Mỹ hòng giải cứu cho số tù binh bị giam giữ ở trại Sơn Tây bất thành các tù binh Mỹ đang giam giữ ở nhiều nơi đã được ta đưa cả về Hỏa Lò làm cho số lượng càng tăng lên khiến cho một số phòng giam gần như "quá tải".
    Về cơ cấu tổ chức của trại tù binh Hỏa Lò: Tổng cộng cán bộ chiến sĩ ta chỉ có khoảng 60 người. Trong đó có một Tổ Quản giáo kiêm Phiên dịch (từ 5 đến 7 cán bộ); một Tổ Bảo vệ chuyên làm nhiệm vụ dẫn giải tù binh đi làm việc và phục vụ sinh hoạt; hai Tiểu đội Hậu cần - Cấp dưỡng được chia làm 2 bộ phận: một bộ phận phục vụ cho ta còn bộ phận kia (có quản lý riêng) chuyên phục vụ tù binh Mỹ; một Trung đội Cảnh vệ gác vòng ngoài (khoảng 20 đến 25 người)...
      Đó là chưa tính các đơn vị phối hợp. Ví dụ: Để đề phòng đối phương có thể đột kích bằng đường không giải thoát tù binh chúng ta đã bố trí một lực lượng phòng không dày đặc trên các tòa nhà cao tầng xung quanh khu vực Hỏa Lò sẵn sàng bắn hạ máy bay bay thấp và máy bay trực thăng cứu hộ.
       Ngoài ra còn có những đơn vị bộ binh công an vũ trang thậm chí có cả xe tăng thiết giáp luôn sắn sàng chiến đấu cao nếu phía Mỹ dám liều lĩnh như với trại tù binh Sơn Tây năm 1970.



Đại tá Trần Trọng Duyệt cựu Trại trưởng Trại tù binh Phi công Mỹ
( khi còn trẻ ) và hiện nay.


Toàn cảnh Hỏa Lò - Trại tù binh Phi công Mỹ năm xưa.

More...

Phi công Mỹ ở Việt Nam ( kỳ 3)

By

 

 Kì 3 :   Lật lại hồ sơ mật hơn 50 năm trước: Tổng thống Mỹ đã tán thành kế hoạch ném bom nguyên tử xuống... Điện Biên Phủ?

         Theo một tài liệu nghiên cứu gần đây chúng tôi có được thì Tổng thống thứ 34 của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ Dwight D.Eisenhower ngay sau khi tiếp quản Nhà Trắng (20 tháng 1 năm 1953) đã tỏ ra quan tâm đặc biệt đến Đông Dương trong đó có Việt Nam. Eisenhower đã cho thành lập một Ủy ban đặc biệt về Đông Dương (The Special Committee on Indochina) do Walter B. Smith thứ trưởng Bộ Ngoại giao làm Trưởng ban và Nhóm công tác đặc biệt về Đông Dương (The Special Working Group on Indochina) do tướng Grave B. Erskine cầm đầu.

Ngày 30 tháng 7 năm 1953 Quốc hội Mỹ đã chuẩn chi 400 triệu đô-la để hỗ trợ Pháp theo đuổi chiến tranh ở Đông Dương. Hai tháng sau ngày 30 tháng 9 Chính phủ Mỹ lại cấp thêm 385 triệu đô-la nữa. Sau này người ta đã tính rằng: Hồi đó Mỹ đã trang trải đến hai phần ba chi phí chiến tranh Đông Dương!

Chưa hết để động viên Pháp Eisenhower đã cử Phó tổng thống Richard Nixon sang Việt Nam. Ngày 4 tháng 11 năm 1953 Nixon tuyên bố tại Hà Nội: "Không thể hạ vũ khí cho đến khi nào đạt được chiến thắng hoàn toàn". Rồi ông ta đến tận Ghềnh (Ninh Bình) để thăm quân Pháp đang tiến hành cuộc hành quân Hải Âu.

Khi tướng Navarre bắt đầu thực hiện cuộc hành quân "Hải Ly" vào ngày 20 tháng 11 năm 1953: lần lượt 16.000 quân Pháp đã được những máy bay vận tải C-47 do Mỹ viện trợ đưa đến thung lũng Điện Biên Phủ dựng lên một tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương với hy vọng sẽ "nghiền nát" quân đội của Việt Minh.

Ngày 20 tháng 2 năm 1954 Mỹ viện trợ cho Pháp thêm 40 máy bay các loại từ ném bom B-26 đến vận tải C-47 C-119... Cũng trong tháng đó Mỹ còn gửi sang Việt Nam 200 lính kỹ thuật thuộc Đơn vị phục vụ Không quân số 81 để giúp Pháp bảo trì và sửa chữa các máy bay mà Mỹ đã cung cấp.

Trước đó sau khi tướng Henri Navarre của Pháp đề nghị giúp đỡ Hoa Kỳ đã quyết định trợ giúp Pháp 12 máy bay C-119 cùng 37 phi công nhưng lại yêu cầu các máy bay mang phù hiệu của Pháp để tránh sự chỉ trích ở trong nước và dư luận quốc tế.

Giữa tháng 3 năm 1954 khi tình hình chiến sự bi đát Mỹ vội vàng giúp Pháp lập cầu hàng không từ Hà Nội lên Điện Biên Phủ. Báo U.S News and World Report tường thuật: "Mỗi ngày gần 100 máy bay vận tải DC-3 đã hạ xuống sân bay trong tầm súng cối của Cộng sản vận chuyển từ 200 đến 300 tấn hàng tiếp tế. Thêm vào đó là 30 máy bay vận tải cỡ lớn C-119 mỗi sáng thả dù từ 100 đến 150 tấn hàng tiếp tế khác. Tất cả các máy bay của cầu hàng không đều do Mỹ giúp".

Không chỉ giúp máy bay Mỹ còn cung cấp cả người lái. Các Phi công Mỹ đã âm thầm thực hiện gần 700 phi vụ tại Điện Biên Phủ trong cuộc chiến được họ mô tả là "một trong những trận đánh vĩ đại của thế kỷ 20". Bởi thế vai trò của 37 phi công Hoa Kỳ trong cuộc bao vây 57 ngày ở Điện Biên Phủ năm 1954 từ trước tới nay còn là một bí mật rất ít người biết tới.

Thậm chí khi Điện Biên Phủ có nguy cơ thất thủ Đô đốc Arthur W.Radford Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân Mỹ đã soạn ra kế hoạch can thiệp quân sự trực tiếp vào Việt Nam. Bản kế hoạch tuyệt mật này được gọi là là "Cuộc hành quân Chim Kên Kên" (Operation Vulture). Theo đó Mỹ sẽ dùng 60 máy bay ném bom hạng nặng B.29 Superfort (mỗi chiếc có thể chở 8 tấn bom) cất cánh từ căn cứ không quân Clark Field ở Philippines để ném bom rải thảm mỗi đợt khoảng 450 tấn bom xuống các vị trí của bộ đội Việt Nam ở Điện Biên Phủ đồng thời dùng 150 máy bay chiến đấu (từ các hàng không mẫu hạm của Hạm đội số 7 hoạt động trong Vịnh Bắc Bộ) để hộ tống các máy bay ném bom nói trên...

Để che giấu bàn tay can thiệp của Mỹ Radford đề nghị xoá bỏ phù hiệu của không quân Mỹ trên thân máy bay và lập một phi đoàn tình nguyện quốc tế bằng cách thuê phi công thuộc nhiều quốc tịch khác nhau.

Ngoài loại bom thường (mỗi quả nặng 2 tấn) Radford còn đề nghị sử dụng 3 quả bom nguyên tử chiến thuật (tactical atomic bombs). Theo các chuyên gia của Lầu Năm Góc tính toán: "chỉ cần 3 quả bom nguyên tử chiến thuật sử dụng cho đúng thì cũng đủ nghiền nát lực lượng Việt Minh ở Điện Biên Phủ".

 Bản Kế hoạch tuyệt mật trên của Radford đã được Tổng thống Mỹ Eisenhower Phó tổng thống Nixon Dulles tướng Nathan F.Twining (Tham mưu trưởng Không quân Mỹ)... tán thành. Rất may khi đưa ra Quốc hội nó đã bị một số nghị sĩ phản đối. Họ đặt điều kiện: "Quốc hội sẽ không ủng hộ việc Mỹ can thiệp quân sự vào Việt Nam chừng nào Chính phủ không được các đồng minh - đặc biệt là nước Anh - cam kết có hành động chung".

Nhưng ngày đó nước Anh đã không muốn can thiệp quân sự vào Việt Nam mà chỉ mong chiến tranh Đông Dương sớm kết thúc thông qua đàm phán ở Geneva. Lập trường của Anh là "không định làm gì hết ở Đông Dương trước khi Hội nghị Geneva có kết quả".

Vậy là kế hoạch mang mật danh "Cuộc hành quân Chim Kên Kên" đã bị phá sản. Nếu không chẳng ai biết được hậu quả khôn lường khi những quả bom nguyên tử được Mỹ ném xuống Điện Biên Phủ. Sẽ có thêm bao nhiêu nạn nhân chiến tranh? Và có thêm bao nhiêu Phi công Mỹ sẽ bị chết bị bắt ở Việt Nam?    




Pháo đài bay B-29 (ảnh trên) và máy bay vận tải C-119 (ảnh dưới)
của Không quân Mỹ cứu viện quân Pháp ở Điện Biên Phủ.

                                                            ĐẶNG VƯƠNG HƯNG
                                                                    ( còn nữa )

More...

Phi công Mỹ ở Việt Nam (kỳ 2)

By

 

               PHI CÔNG MỸ Ở VIỆT NAM


Kì 2:      Đến nhóm đặc nhiệm "Con Nai"

            và quan hệ Việt - Mỹ năm 1945

Theo thỏa thuận giữa Lãnh tụ Hồ Chí Minh và Tướng Mỹ Chennault tháng 7 tháng 1945 một đơn vị tình báo đặc nhiệm mang bí danh "Con Nai" (The Deer Team) thuộc tổ chức OSS (The Office of Strategic Services tiền thân của CIA Mỹ) đại diện cho quân Đồng Minh đã nhảy dù xuống Tân Trào để phối hợp với Việt Minh chống phát xít Nhật.

Nhóm "Con Nai" ở cách Tân Trào 3 km trước đó đây là  nơi dành cho các lớp bồi dưỡng chính trị nay thành thao trường huấn luyện của Việt Minh. Họ phân công nhau mỗi người mỗi việc trong đó có người làm bác sĩ đã từng chữa bệnh cho Bác Hồ khi Người bị ốm. Vũ khí thuốc men thực phẩm của họ đều được tiếp tế bằng máy bay. Tuy nhiên cả nhóm vẫn dùng thực phẩm của địa phương như cơm ngô măng rừng rau và thịt gà...

Nhóm "Con Nai" đã tích cực tham gia huấn luyện quân sự cho lực lượng của Việt Minh tổ chức tiếp tế một số vũ khí hạng nhẹ hàng quân sự cho Việt Minh. Để làm việc này họ đã cố vấn cho ta xây dựng một sân bay dã chiến ở Lũng Cò cách Tân Trào khoảng 8 km về hướng Tây Bắc.

Lũng Cò (nay thuộc thôn Đồng Đon xã Minh Thanh huyện Sơn Dương tỉnh Tuyên Quang) có một dải đất rộng khoảng 4 héc-ta nằm trong một thung lũng hẹp bốn xung quanh được bao bọc bởi các ngọn núi và những quả đồi thấp cây cối um tùm rậm rạp rất phù hợp để xây dựng một sân bay dã chiến tiếp nhận máy bay chở hàng viện trợ của quân Đồng Minh. Giữa tháng 6 năm 1945 khoảng 200 người dân địa phương đã lao động với tinh thần cố gắng hết mình. Dự kiến công việc làm trong một tuần nhưng với quyết tâm cao và nhiệt tình cách mạnhg nên chỉ sau có hai ngày phát dọn san gạt đầm một sân bay dã chiến đã hình thành. (Có lẽ đó là một trong những "kỷ lục" xây dựng sân bay nhanh nhất thế giới!). Sân bay Lũng Cò có chiều dài 400 mét và rộng 20 mét đường băng trải dài theo hướng Nam- Bắc. Các cán bộ ở đây đã cắm những lá cờ trắng ở hai bên làm hoa tiêu loại máy bay vận tải hạng nhẹ L5 của Không quân Mỹ có thể hạ cánh và cất cánh an toàn. Đây là sân bay đầu tiên do chính bàn tay và khối óc của chúng ta làm nên và cũng có thể coi đây là "Sân bay Quốc tế" đầu tiên của Chính quyền Cách mạng Việt Nam. Sân bay Lũng Cò đã tiếp nhận thành công hàng chục chuyến bay của quân Đồng Minh do Phi công Mỹ lái. Đó cũng là nơi Chính phủ ta thực hiện nhiệm vụ quốc tế là đưa những người Pháp bị Nhật cầm tù ở Tam Đảo trở về nước vào cuối tháng 7 năm 1945.

Tiếp đó Nhóm đặc nhiệm "Con Nai" đã cùng các chiến sĩ Việt Minh thành lập "Đại đội Việt - Mỹ" khoảng 200 người do đồng Đàm Quang Trung (sau này là Thượng tướng Uỷ viên Trung ương Đảng Tư lệnh Quân khu Một Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước) chỉ huy Thiếu tá A.K.Thomas làm cố vấn nhằm chung mục tiêu chống phát xít Nhật. Chính đơn vị này đã tham dự lễ xuất quân từ cây đa Tân Trào sau Quốc dân Đại hội và Quân lệnh số 1 phát động khởi nghĩa. Họ đã cùng chúng ta hành quân qua Thái Nguyên về tận Hà Nội. Cho dù sau đó những người lính Mỹ này đã được lệnh cấp trên "án binh bất động" (họ ngồi im xem Việt Minh và Nhật đánh nhau) thì đó vẫn là lực lượng nước ngoài duy nhất đứng bên cạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh trong cuộc Cách mạng Tháng Tám.

Trước khi trở về nước những thành viên của của nhóm "Con Nai" đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi gắm một sứ mệnh đặc biệt: chuyển giúp thư của Người đến Chính phủ Mỹ đề nghị Tổng thống Truman công nhận độc lập của Việt Nam! Nhưng tiếc là thời điểm ấy nước Mỹ chỉ tập trung quan tâm đến châu Âu bỏ qua khu vực Đông Nam Á. Và lịch sử đã đi theo hướng khác: hai nước trở thành đối thủ trong cuộc chiến 20 năm...

Nửa thế kỷ sau vào ngày 12 tháng 10 năm 1995 tại Hà Nội có cuộc gặp với những người bạn Mỹ Charles Fenn có mặt. Sau 50 năm Charles Fenn đã ở tuổi gần 80 nhưng những ấn tượng sâu sắc về Lãnh tụ Hồ Chí Minh thì vẫn nguyên vẹn trong ông: "Chúng tôi gặp một người có vóc dáng mảnh khảnh đi dép tại quán cà phê Đông Dương. Người này có đôi mắt sáng ngời có sức hấp dẫn đặc biệt. Đó chính là Hồ Chí Minh. Tướng Chennault cảm ơn về việc Việt Minh cứu viên Phi công Mỹ rồi hỏi: "Chúng tôi có giúp gì được các ông không?" Hồ Chí Minh nói: "Tôi muốn có tấm hình của ông làm kỷ niệm. "Rồi hai người ngồi uống nước rất thân mật với nhau. Tôi nhớ lúc đó Cụ Hồ đã nói với các cán bộ đi theo rằng: "Người Mỹ là bạn của chúng ta như tướng Chennault là bạn của tôi đây này." Những ngày tháng bên cạnh Hồ Chí Minh đã để lại trong tôi một ấn tượng mạnh."

   Vậy là từ việc cứu giúp một Phi công Mỹ nhảy dù xuống Việt Nam năm 1944 với tài ngoại giao của Lãnh tụ Hồ Chí Minh đã dẫn đến quan hệ hợp tác Việt - Mỹ năm 1945. Đó là sự hợp tác hai bên cùng có lợi sự giúp đỡ của những người bạn Mỹ rất đáng trân trọng. Chúng ta cần tranh thủ mọi lực lượng trong những ngày chuẩn bị giành Chính quyền Tháng Tám năm 1945 lịch sử. Rất tiếc mối quan hệ đó không được lâu dài khi Nhật tuyên bố đầu hàng Đồng Minh thì chính quyền Mỹ quay lại ủng hộ Pháp xâm lược Đông Dương. Họ đã viện trợ rất nhiều vũ khí hàng quân sự cho Pháp đánh lại Việt Minh; thậm chí còn trực tiếp cho Phi công Mỹ lái C-119 mang phù hiệu của Pháp chở hàng tiếp cho quân Pháp ở Điện Biên Phủ. Sự thật này phải hơn 50 năm sau mới tình cờ được tiết lộ...

Những Phi công Mỹ bị bắn rơi

và chết lặng lẽ ở Điện Biên Phủ...

Nhà văn Nguyễn Trần Thiết đã cung cấp cho bạn đọc một chi tiết thú vị:Vào cuối thập niên 70 nghĩa là sau khi người Mỹ đã cam chịu thất bại kết thúc cuộc chiến tranh Việt Nam không lâu một nhà nghiên cứu lịch sử là Tiến sĩ William Learay đã tình cờ tìm thấy trong văn khố lưu trữ Hoa Kỳ một tài liệu có đóng dấu "mật". Ông đọc và sửng sốt khi phát hiện sự kiện có hai Phi công Mỹ tên là James B.Mc Govern và Wallace A Buford đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ với quân đội Pháp.

Đặc biệt là chiếc máy bay kiểu C-119 do hai Phi công Mỹ kể trên lái đã bị cao xạ pháo Việt Nam bắn rơi ngày 6 tháng 5 năm 1954. Nghĩa là chỉ trước khi Tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương của Pháp bị thất thủ có một ngày. Điều trớ trêu đáng buồn hơn là họ tên của những người lính Phi công Mỹ này lại không được ghi trên bia tưởng niệm những người Mỹ đã chết ở Việt Nam.

Năm 1998 cơ quan Tìm kiếm tù binh và những người Mỹ mất tích ở Việt Nam phát hiện ra xác chiếc C-119 loại máy bay vận tải hai thân lớn chuyên thả dù tiếp tế cho lính Pháp ở Điện Biên bị rơi trên đất Lào. Nhưng hài cốt tìm thấy lại không phải những người mà Mỹ đang cần.

Người ta lục trong hồ sơ cũ thấy ngoài bức điện của De Castries Tư lệnh Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ báo cáo với tướng Henri Navarre thông tin về máy bay C-119 rơi còn có một sĩ quan Pháp tại Lào cho biết một chi tiết đáng chú ý: Dân làng Sót thuộc Mường Hét đã chôn hai người Mỹ trong hai ngôi mộ xây theo kiểu Đạo Phật.

Nhưng đáng ngạc nhiên là tất cả mọi nguồn tin xoay quanh hai viên phi công nêu trên đều bị Bộ Quốc phòng Mỹ ỉm đi cố tình phớt lờ không chịu công bố. Chính quyền Mỹ muốn bưng bít sự thật về sự tham chiến của họ cùng Pháp ở Đông Dương chống lại Cách mạng Việt Nam.

Điều bí mật đó mãi đến đầu năm 2004 mới được phanh phui khi một người Mỹ tên là Douglas Paynter với tư cạch là đạo diễn phim tư liệu đã gặp Bộ Ngoại giao Việt Nam kể lại những điều ông đã biết và xin phép được tìm gặp và quay phim những nhân chứng lịch sử xoay quanh sự kiện này.

Một số cựu chiến sĩ Điện Biên của Việt Nam đã được mời đến gặp gỡ làm việc với Đạo diễn Mỹ Douglas Paynter trong đó có Đại tá Nguyễn Cần nguyên Đại đội phó Đại đội Cao xạ pháo 816 đơn vị trực tiếp tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ. Đại tá Nguyễn Cần đã khiến cho ông đạo diễn người Mỹ vô cùng xúc động khi đưa cho ông ta xem một cuốn sổ cũ. Đó là một cuốn nhật kí thời chiến ghi chép tại mặt trận. Trên một trang giấy kẻ ô-li cũ những dòng chữ đã ố vàng sau 50 năm nhưng còn đọc được: "Ngày 6 tháng 5-1954 Đại đội 816 bắn rơi một C-119 (thực tế là 2) rơi cách Điện Biên 120 km". Douglas Paynter đã coi Nguyễn Cần là một nhân chứng sống quý hơn vàng. Lính cao xạ thường có trí nhớ tuyệt vời. Ông Cần đã kể lại chi tiết từng trận đánh diễn ra 50 năm trước. Đặc biệt là những trận đơn vị ông bắn rơi máy bay đối phương thu được rất nhiều thịt hộp cá hộp bia rượu và chiến lợi phẩm khác...

Tạm biệt những Cựu chiến binh cao xạ Việt Minh Đạo diễn người Mỹ trân trọng lật tìm trong cuốn "Điện Biên Phủ điểm hẹn lịch sử" của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Tại trang 380 dòng thứ 8 từ trên xuống ông ta thấy một đoạn có ghi chuyện xảy ra ngày 6 tháng 5 năm 1954 như sau: "Pháo cao xạ bắn rơi một máy bay vận tải". Khẩu đội trưởng Khẩu đội 2 Nguyễn Thế Vinh kể lại chuyện cách đây nửa thế kỉ rất sinh động: Nghe đại đội trưởng Lại Văn Đan chỉ thị mục tiêu cả bốn nòng pháo đồng loại nổ súng nhả đạn chùm quanh máy bay. Quan sát viên trông thấy đạn trúng cánh trái chiếc thứ nhất. Cả hai chiếc C-119 thả vội dù lương thực thực phẩm... rồi bỏ chạy (có một số dù rơi vào trận địa C816). Chính trị viên Vũ Tuấn Chuyển biểu dương các khẩu đội đã bắn loạt đạn thứ hai trúng cả hai mục tiêu đặc biệt nhìn rõ đuôi chiếc thứ nhất bị toé lửa.

Đạo diễn Douglas Paynter làm phim tư liệu nên ông ta cần sưu tập những chứng cứ đầy sức thuyết phục và đặc biệt là những nhân chứng sống. Trước khi đặt chân lên mảnh đất Điện Biên thăm tại chỗ trận địa cao xạ pháo của Đại đội 816 người đạo diễn này đã may mắn tìm được viên phi công lái chiếc phi cơ thứ hai tại Điện Biên Phủ ngày đó tên là S. Kisac. Chính người cựu Phi công Mỹ này đã nhớ lại và thú nhận: "Hôm đó chúng tôi thống nhất với James và Wallace là bay ngược hướng với những chuyến bay trước để đánh lừa lực lượng phòng không Việt Minh. Nhưng chưa vào đến điểm thả dù thì một viên đạn đã trúng động cơ bên trái máy bay. Xăng phun mạnh. James tắt động cơ bên trái thả tất cả dù cho máy bay bay ra. Bất ngờ lại bị dính viên đạn thứ hai vào đuôi. Máy bay mất kiểm soát lao nhanh rồi đâm vào ngọn núi bốc cháy...

Vậy là tới năm 2004 nghĩa là tròn nửa thế kỷ sau cuộc chiến Điện Biên Phủ chính người Mỹ đã thừa nhận sự dính líu của mình. Họ đã đề nghị phía Việt Nam giúp đỡ tìm kiếm xác minh lại những chuyện xảy ra cách đây hơn nửa thế kỷ. Một sự thật đã được những người có trách nhiệm và những người lính cả hai phía chứng minh và không ai có thể phủ nhận! Chúng ta đã có đủ căn cứ để khẳng định rằng: Quân đội Mỹ đã trực tiếp tham chiến cùng với quân Pháp tại Việt Nam năm 1954. Hai Phi công Mỹ đã chết mất xác tại chiến trường Điện Biên Phủ. Có thể một ngày nào đó hài cốt của hai viên Phi công Mỹ sẽ được tìm thấy và tên của James B.Mc Govern Wallace A Buford sẽ được ghi tại đài tưởng niệm những người Mỹ chết tại Việt Nam?

Một năm sau vào tháng 2 năm 2005 đến lượt người Pháp đã công khai ghi công cho phi công Mỹ tại Điện Biên Phủ bằng cách trao tặng huân chương cho bảy phi công Hoa Kỳ từng đã tham gia những chuyến bay bí mật hồi năm 1954 nhằm giúp quân Pháp đang bị thất thế ở Điện Biên Phủ.

Hãng thông tấn Pháp AFP đã trích lời Đại sứ Pháp ở Washington hồi đó là Jean David Levitte nói tại buổi lễ trao Bắc đẩu Bội tinh (do Hoàng đế Napoleon lập ra năm 1802 và là một trong những huân chương cao quý nhất của nước Pháp) cho các phi công Hoa Kỳ rằng: "Nước Pháp muốn biểu dương sự dũng cảm của những người đã có nhiều chuyến bay tại Điện Biên Phủ".

Bởi thế Pháp đã chọn ra bảy cựu Phi công Mỹ để trao Bắc đẩu Bội tinh và sáu người trong số đó đã dự lễ trao huân chương tại Washington.


 Tướng Không quân Chennault đại diện quân Đồng  Minh


 Một số phi công của đơn vị " Hổ Bay" tại Côn Minh Trung quốc.


Sân bay Lũng Cò ở căn cứ Cách mạng Tân Trào- Tuyên Quang đang thi công


   Máy bay L5 của Quân Đồng Minh từ Côn Minh bay đến chuẩn bị hạ cánh
 xuống sân bay Lũng Cò năm 1945.
                                                                  ( còn nữa)
                                                            ĐẶNG VƯƠNG HƯNG

More...

Phi công Mỹ ở Việt Nam

By

 

               PHI CÔNG MỸ Ở VIỆT NAM

     Chiến tranh bao giờ cũng mang nhiều yếu tố kịch tính. Có những điều phải qua một thời gian dài mới có thể thấy được một cách rõ ràng chân thực. Nhưng cũng có những điều cứ mãi nằm trong bí mật. Giữa thế kỷ 20 đầy bão táp và biến động đất nước Việt Nam phải trải qua những năm tháng ngập chìm trong đạn bom và chết chóc. Nếu như trên mặt trận chống phát xít Nhật phi công Mỹ với Việt Minh là bạn thì sau năm 1945 khi nhân dân ta kháng chiến chống thực dân Pháp phi công Mỹ lại đứng về phía kẻ đi xâm lược. Đặc biệt trong "Cuộc chiến tranh Việt nam" mà người Mỹ thường gọi họ lại trực tiếp can thiệp và phải gánh chịu tổn thất lớn cả về sinh mạng vật chất lẫn tinh thần. Đó là một sai lầm có tính chất lịch sử của họ.

    Với tác phẩm " Những phi công Mỹ ở Việt Nam" ( NXB Công an Nhân dân - 2010 ) nhà văn Đặng Vương Hưng đã cung cấp cho người đọc những tình tiết mới của các sự kiện diễn ra ở các thời kì. Qua đó soi tỏ nét đẹp đầy nhân văn của con người Việt Nam từ vị lãnh tụ tối cao Hồ Chí Minh đến người lính cầm súng người dân bình thường luôn là bạn của những ai yêu chuộng hòa bình sẵn sàng chia ngọt sẻ bùi giúp đỡ nhau khi hoạn nạn. Tác phẩm là kết quả của sự đầu tư công sức tâm huyết tìm kiếm tập hợp và xử lý thông tin của nhà văn trong đó có những tư liệu lần đầu được công bố; lý giải được những vấn đề mà nhiều người Mỹ nhất là những nhà nghiên cứu đang muốn tìm hiểu chẳng hạn như sự kiện biệt kích Mỹ giải cứu phi công không thành ở Sơn Tây... Người đọc còn được biết thêm trong việc đánh pháo đài bay B52 không chỉ có quân và dân trong nước mà còn có cả Việt Kiều yêu Tổ quốc ở nước ngoài cũng " hiến kế đánh B52" một sự đóng góp trí tuệ của cả dân tộc dù người Việt nam sống ở bất cứ phương trời nào và nhiều chuyện thú vị về phi công Mỹ khi bị giam ở Hỏa Lò.

  Có thể nói cuốn " Phi công Mỹ ở việt Nam" của nhà văn Đặng Vương Hưng không chỉ phản ánh chân thực lịch sử mà nó còn hết sức có ý nghĩa khi mối quan hệ Việt Mỹ đang được cải thiện khi " đối thủ đã trở thành bè bạn".




     Lãnh tụ Hồ Chí Minh đồng chí Võ Nguyên Giáp cùng một số thành viên
nhóm tình báo "Con Nai" Mỹ tại Tân Trào năm 1945.





  Đại đội Việt - Mỹ làm lễ xuất quân.
 

Kì 1:   

   
BÁC HỒ VÀ NHỮNG PHI CÔNG MỸ ĐẦU TIÊN CÓ MẶT TẠI VIỆT NAM

Có một thời đã lâu lắm rồi Phi công Mỹ bị bắn rơi ở Việt Nam được coi là... đồng minh và là bạn của nhân dân Việt Nam. (Nếu trong kháng chiến chống Mỹ mà có ai viết hay nói như vậy thì đó là cả một sự xúc phạm ghê gớm một điều không thể chấp nhận và không dễ dàng tha thứ!).

Nhưng đó là một câu chuyện có thật liên quan đến một giai đoạn lịch sử quan trọng của dân tộc ta và Bác Hồ muôn vàn kính yêu. Sự kiện này mở đầu cho mối quan hệ bang giao Việt - Mỹ khi Cách mạng Việt Nam đang còn non trẻ trong trứng nước với muôn vàn khó khăn... Nhờ thế chúng ta đã tập hợp và tranh thủ được sự giúp đỡ của những người bạn trong phe Đồng Minh chống Phát xít góp phần cho Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công.

Những Phi công Mỹ đầu tiên có mặt tại Việt Nam đều xuất hiện trong những hoàn cảnh hết sức éo le chẳng ai giống ai. Bí mật về cuộc đời họ còn nhiều chi tiết chưa được tiết lộ và còn rất ít được biết đến.

Từ chuyện cứu một Phi công Mỹ nhảy dù tại Cao Bằng năm 1944...

Tại Viện Bảo tàng Cách mạng Việt Nam vẫn còn lưu giữ một ấn phẩm báo "Việt Nam độc lập" cơ quan của Mặt trận Việt Minh Cao Bắc Lạng do Lãnh tụ Hồ Chí Minh sáng lập và điều hành. Trong tờ báo này có một phụ bản rất độc đáo đó là một tranh vẽ gồm 8 bức hình liên hoàn hướng dẫn nhân dân cách cứu Phi công Mỹ. Nội dung mô tả theo trình tự từ lúc phát hiện ra máy bay Mỹ bị quân Nhật bắn rơi thấy dù của phi công trên trời xuống đến lúc giúp Phi công Mỹ chọn cất dù cải trang rồi đưa vào chiến khu giao cho đoàn thể... Phía trên những bức tranh liên hoàn ấy có vẽ hai lá cờ: sao vạch của Hoa Kỳ và cờ đỏ Sao Vàng của Việt Minh. Ở giữa hai lá cờ lại có một câu thơ: "Bộ đội Mỹ là bạn ta / Cứu Phi công Mỹ mới là Việt Minh". Bức tranh và câu thơ này đến nay vẫn được coi là do Bác Hồ trực tiếp vẽ. Không chỉ vẽ tranh mà Người còn yêu cầu dựng những tiểu phẩm kịch tả lại cách cứu phi công để các đội tuyên truyền xung phong của Việt Minh đi diễn trong các buổi sinh hoạt văn nghệ của dân vùng giải phóng vừa vui lại vừa cho dân dễ nhớ và dễ làm theo... Những chi tiết nêu trên có liên quan đến một câu chuyện thú vị xảy ra cách đây đã gần 70 năm...

Khoảng tháng 10 năm 1944 có một Trung uý Phi công Mỹ tên là William Shaw trong khi làm nhiệm vụ lái máy bay trên vùng trời biên giới Việt Nam - Trung Quốc đã bị quân Nhật bắn rơi xuống xã Đề Thám (huyện Hoà An tỉnh Cao Bằng) - Đây là vùng chiến khu của Mặt trận Việt Minh một tổ chức do lãnh tụ Hồ Chí Minh sáng lập không những tập hợp mọi lực lượng trong nước mà còn liên kết với các tổ chức ngoài nước với đại diện của các nước phe Đồng Minh trong mặt trận chống phát xít.

 Bởi thế Bác Hồ đã chỉ thị cho các lực lượng của ta phải bảo vệ chăm sóc Trung uý Shaw cẩn trọng và tìm cách đưa về Pác Bó: "Khi ở trên trời là người của họ xuống đây là khách của ta phải đón tiếp chu đáo". Vậy là sau khoảng 3 tuần leo đèo lội suối băng rừng ròng rã vượt qua sự lùng sục bao vây của quân Nhật người Phi công Mỹ nêu trên đã được đưa về Pác Bó gặp Bác.

Sau này Thượng tướng Phùng Thế Tài - người đầu tiên bảo vệ Bác từ khi Người về nước đã kể lại tâm trạng của người Phi công Mỹ ngày đó trong một hồi ký của mình:

"Sau gần một tháng trời miệng như câm có tai như điếc được gặp Bác được nghe tiếng nói của quê hương xứ sở viên Phi công Mỹ bàng hoàng sung sướng đến phát khóc. Anh ta hoàn toàn bất ngờ không hiểu tại sao giữa núi rừng của nước Việt Nam xa xôi này lại có cụ già trông rất quê mùa nói tiếng Anh giỏi đến thế. Ngạc nhiên hơn anh còn biết cụ già này đã từng đặt chân đến nước Mỹ ngay từ khi anh ta còn chưa sinh ra trên đời.

Tấm lòng nhân hậu của Lãnh tụ Hồ Chí Minh có tác dụng cảm hoá Trung uý Shaw mạnh mẽ. Bác còn tặng người Phi công Mỹ này bản "Chương trình Việt Minh" đã được Người trực tiếp dịch ra tiếng Anh.

Sau đó Trung uý Shaw đã trở thành "cầu nối" để lãnh tụ Hồ Chí Minh gặp tướng Claire Chennault (1893 - 1958) Tư lệnh Không đoàn 14 có biệt danh là đơn vị "Hổ Bay" của Mỹ đại diện cho lực lượng Đồng Minh tại vùng Hoa Nam (Trung Quốc). 

    ...Vượt ngàn cây số để kết nối với Tướng Không quân Mỹ

Để có cuộc gặp "không hẹn trước" với viên tướng Mỹ kể trên Lãnh tụ Hồ Chí Minh đã phải đi giày cỏ theo đường bộ vượt hàng ngàn km từ Pác Bó (Việt Nam) tới Côn Minh (Trung Quốc) trong sự kiểm soát gắt gao của các lực lượng thù địch.

Khi tới Côn Minh với cái cớ cần trao trả cho phe Đồng Minh viên Trung uý phi công Shaw được Việt Minh cứu sống khi máy bay bị quân Nhật bắn rơi trên chiến trường Bắc Đông Dương Bác Hồ đã tìm gặp một số người Mỹ để thăm dò và vận động sự công nhận đối với tổ chức Việt Minh như một thành viên trong lực lượng chống Phát xít. Trong số đó có Trung uý Charles Fenn - một sĩ quan Hải quân Hoa Kỳ được phái đến Côn Minh làm nhiệm vụ trong Cơ quan Hỗ trợ cho không quân tại mặt đất (AGAS).

Charles Fenn đã bị Lãnh tụ Hồ Chí Minh chinh phục hoàn toàn ông rất cảm tình với Mặt trận Việt Minh đã nhất trí việc đưa một số thiết bị thông tin và đào tạo các báo vụ viên cho Việt Minh. Tiếp đó Bác Hồ đã đề nghị Charles Fenn giúp đỡ để trực tiếp gặp và hội đàm với Tướng Chennault Tư lệnh đơn vị mang biệt hiệu "Hổ Bay" của Mỹ đang đóng bản doanh tại vùng Hoa Nam Trung Quốc cũng là người dại diện cao nhất của quân Đồng Minh tại khu vực. 

Tướng Chennault đã rất cảm động về sự giúp đỡ của Mặt trận Việt Minh đối với Trung uý phi công Shaw. Có lẽ ông đã nhận thấy trong lời nói của Hồ Chí Minh là quyết tâm của một dân tộc yêu chuộng hoà bình đứng về phe Đồng Minh chống phát xít: "Hiện nay phong trào du kích của chúng tôi tuy đang lên rất cao nhưng vũ khí thuốc men rất thiếu thốn. Chúng tôi đề nghị các ngài tạo điều kiện giúp đỡ để hai nước chúng ta có điều kiện mau chóng đánh bại phát xít Nhật..." Thái độ chân tình thẳng thắn của Bác cũng đã chinh phục được Chennault. Viên tướng Mỹ này đã hoàn toàn ủng hộ ý kiến của Lãnh tụ Hồ Chí Minh và hứa sẽ sẵn sàng giúp đỡ. Hai bên đã thoả thuận: Phía Việt Nam sẽ tăng cường lực lượng du kích và mở rộng phạm vi hoạt động của lực lượng này; cung cấp những thông tin tình báo và khí tượng cho không quân Mỹ hoạt động trên chiến trường chống Nhật ở miền Bắc Đông Dương... Ngược lại phía quân Đồng Minh có trách nhiệm đưa các phái đoàn quân sự sang giúp đỡ Việt Nam huấn luyện quân sự đồng thời trang bị vũ khí điện đài và các trang thiết bị khác.

Thượng tướng Phùng Thế Tài người chứng kiến buổi chiêu đãi của tướng Chennault dành cho Lãnh tụ Hồ Chí Minh ngày đó đã kể lại tài ngoại giao của Bác Hồ trong hồi ký của mình:

"Quan khách cũng khá đông và là những nhân vật có tầm cỡ. Có cả tướng Lư Hán Tư lệnh quân Tưởng ở Vân Nam; tướng Trương Phát Khuê Tư lệnh đệ tứ chiến khu chỉ huy toàn bộ vùng Lưỡng Quảng. Ngoài ra còn có Long Vân tỉnh trưởng Vân Nam và một số quan khách khác. Buổi chiêu đãi thật long trọng... Đặc biệt với Bác tôi thấy mọi người đều trọng vọng và cách ứng xử của Bác thật tuyệt vời hết sức tự nhiên mà lại đàng hoàng chững chạc. Với Chennault và với các tướng Mỹ khác Bác nói bằng tiếng Anh. Bác kể chuyện những ngày ở London ở New York... Với Lư Hán Long Vân thì Bác nói bằng tiếng Trung Quốc. Bác nói vui với hai người này là tôi đã từng "trú ngụ trong địa phận cai quản" của các ngài từ năm 1940 bây giờ mới hân hạnh gặp mặt thật là một thiếu sót. Cả bàn tiệc cười vang vui vẻ...".

Chennault kính trọng Lãnh tụ Hồ Chí Minh và tặng Người tấm ảnh của mình với dòng chữ: "Bạn chân thành của tôi". Sau đó viên tướng Mỹ này đã chỉ thị cho Trung uý Charles Fenn thuộc cơ quan chiến lược tình báo Mỹ tại Trung Quốc thực hiện hợp tác với Mặt trận Việt Minh.

Khi Lãnh tụ Hồ Chí Minh về nước đã có hai người Mỹ là Frank Tan và Mac Shin cùng sang giúp chúng ta về điện đài. Về sau còn có Jonh một báo vụ viên OSS và một số người khác nữa. Những người bạn Mỹ được Việt Minh đón tiếp chu đáo tạo mọi điều kiện để làm việc. Họ đã giúp Việt Minh một số điện đài vũ khí và hướng dẫn người của ta sử dụng.

Căn cứ của Mặt trận Việt Minh sau đó cũng được chuyển từ Pác Bó (Cao Bằng) sang Tân Trào (Tuyên Quang) để thuận lợi hơn cho sự phát triển lực lượng với các hoạt động lớn sau này.


More...

Đầu xuân tới thăm tác giả tiểu thuyết "DÒNG XOÁY"

By


    

ĐẦU XUÂN TỚI THĂM TÁC GIẢ TIỂU THUYẾT "DÒNG XOÁY"

    Mùng bảy Tết Canh Dần 2010 từ Hà Nội chúng tôi xuôi về Thành Nam thăm nhà văn Trần Thị Nhật Tân tác giả tiểu thuyết " DÒNG XOÁY" từng gây chấn động văn đàn cuối những năm tám mươi của thế kỉ trước và gần đây khi tái bản lại một lần nữa lại làm lay động bao trái tim người đọc.

     Sau hai giờ " vi vu" trên đường ( so với kế hoạch có trễ một chút) anh em đã có mặt trong căn nhà cũ hai tầng của nhà văn ở phường Lộc Hạ với cuộc gặp gỡ đầu xuân đầy chân tình và ấm cúng.
 
      
      Nhà văn Trần Thị Nhật Tân khai bút đầu Xuân Canh Dần 2010.

       
                Nhà văn Trần thị Nhật Tân và Hà Vân
    Nhà thơ Văn Nhuận (Hội VHNT Hà Nam) Thanh Cao Hồng Phúc (hàng sau)

        
                Quả của vườn nhà lộc đầu xuân

       
     Nhà văn Trần Thị Nhật Tân tặng sách nghệ sĩ nhiếp ảnh Hồng Phúc.

        
      Tâm sự chuyện Văn giữa Thanh Cao và nhà thơ Văn Nhuận.

         
                    Cùng vui chén rượu mừng xuân.

         
             Trước ngôi nhà của mình nhà văn Trần Thị Nhật Tân 
           vẫn như còn " phảng phất" một thời thiếu nữ.

          
             Mai này sang phương trời Âu Hà Vân chắc nhớ mãi
           phút giây lưu luyến này
!
       

More...